Xu hướng thận trọng gia tăng
Để đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2026, Cục Thống kê đã khảo sát 19.907 doanh nghiệp đại diện cho 34 tỉnh, thành phố. Số doanh nghiệp tham gia khảo sát đạt 97,4%.
Kết quả khảo sát cho thấy, có 68,8% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh của quý I/2026 tốt hơn hoặc giữ ổn định so với quý IV/2025. Trong đó, 20,5% doanh nghiệp nhận định tình hình cải thiện, 48,3% cho rằng duy trì ổn định. Ngược lại, 31,2% doanh nghiệp cho biết hoạt động gặp nhiều khó khăn hơn.
Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với quý trước, xu hướng thận trọng đang gia tăng. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá hoạt động thuận lợi hơn giảm 4,9 điểm phần trăm; tỷ lệ đánh giá ổn định giảm 2,1 điểm phần trăm; trong khi tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng tình hình khó khăn hơn tăng thêm 7 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy đà phục hồi chưa thực sự vững chắc, đồng thời phản ánh những áp lực mới phát sinh trong môi trường kinh doanh.
Gần 47% doanh nghiệp đề xuất Chính phủ, các bộ ngành hỗ trợ nhằm giảm lãi suất cho vay Để giảm bớt áp lực về chi phí đầu vào. Ảnh: VC
Xét theo ngành kinh tế, khu vực thương mại, dịch vụ tiếp tục là điểm sáng với mức độ lạc quan cao nhất. Có 77,9% doanh nghiệp trong lĩnh vực này đánh giá hoạt động tốt hơn hoặc giữ ổn định, trong đó 21,1% cho rằng cải thiện và 56,8% đánh giá ổn định. Tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn là 22,1%, thấp hơn đáng kể so với các ngành khác.
Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, 69,9% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn hoặc giữ ổn định. Dù vậy, vẫn có 30,1% doanh nghiệp cho biết gặp khó khăn, cho thấy áp lực chưa được giải tỏa hoàn toàn đối với khu vực sản xuất chủ lực.
Đáng chú ý, ngành xây dựng là lĩnh vực ghi nhận mức độ khó khăn cao nhất. Chỉ có 55,6% doanh nghiệp đánh giá hoạt động tốt hơn hoặc giữ ổn định, trong khi có tới 44,4% doanh nghiệp nhận định tình hình khó khăn hơn so với quý trước. Điều này phản ánh rõ những trở ngại từ chi phí đầu vào và thị trường trong lĩnh vực này.
Xét theo loại hình kinh tế, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện mức độ lạc quan cao nhất, với 71,7% doanh nghiệp đánh giá hoạt động tốt hơn hoặc giữ ổn định. Khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ tương ứng là 69,5% và 68,3%. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các khu vực không lớn, cho thấy những thách thức mang tính phổ biến đối với toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp.
Áp lực chi phí và thị trường - hai “nút thắt” lớn nhất
Dù môi trường chính sách tiếp tục được cải thiện, cộng đồng doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn từ cả phía đầu vào và đầu ra.
Ở chiều tích cực, các chính sách điều hành của Chính phủ, Thủ tướng cùng sự vào cuộc của các bộ, ngành và địa phương đã góp phần cải thiện môi trường kinh doanh. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo khuôn khổ chính sách theo hướng minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Nhờ đó, tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn do các quy định pháp luật của Nhà nước chỉ còn 5,2%, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp gặp trở ngại trong tiếp cận vốn vay ở mức 5,1%.
Tuy nhiên, những thuận lợi từ chính sách chưa đủ để bù đắp các áp lực từ thị trường. Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu cùng các chi phí logistics tiếp tục gia tăng, trở thành yếu tố gây cản trở lớn nhất đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Có tới 56,1% doanh nghiệp cho biết đây là khó khăn chủ yếu, tăng mạnh so với các quý trước.
Ở chiều đầu ra, nhu cầu thị trường trong nước phục hồi chậm vẫn là lực cản đáng kể. Khoảng 50,4% doanh nghiệp đánh giá sức cầu thấp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, gần như không cải thiện so với quý IV/2025.
Đối với ngành xây dựng, áp lực chi phí đầu vào còn rõ nét hơn. Có tới 70,1% doanh nghiệp trong lĩnh vực này cho biết gặp khó khăn do giá nguyên vật liệu tăng cao, cho thấy mức độ nhạy cảm của ngành trước biến động chi phí.
Trước những khó khăn nêu trên, cộng đồng doanh nghiệp đã đưa ra nhiều kiến nghị. Trong đó, giảm lãi suất cho vay là đề xuất được quan tâm nhiều nhất, với 46,8% doanh nghiệp kiến nghị. Đối với chính sách tài khóa, 37,5% doanh nghiệp đề nghị điều chỉnh thuế, phí và các khoản nghĩa vụ tài chính theo hướng phù hợp hơn, trong khi 19,9% kiến nghị giảm tiền thuê đất để giảm gánh nặng chi phí.
Liên quan đến đầu vào sản xuất, 54,8% doanh nghiệp đề xuất có chính sách bình ổn giá nguyên, nhiên, vật liệu và chi phí dịch vụ, đồng thời 33,5% kiến nghị cần bảo đảm ổn định nguồn cung để duy trì hoạt động sản xuất liên tục.
Về tiếp cận vốn, 29,1% doanh nghiệp đề nghị tiếp tục cắt giảm điều kiện và thủ tục vay vốn. Song song đó, 29,3% doanh nghiệp kiến nghị rút ngắn thời gian xử lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Ở chiều thị trường, các kiến nghị tập trung vào việc kích cầu và mở rộng đầu ra. Cụ thể, 18,2% doanh nghiệp đề xuất tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tiêu dùng trong nước; 18,7% kiến nghị tăng cường xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường mới. Ngoài ra, một bộ phận doanh nghiệp mong muốn được tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, cải thiện chất lượng dịch vụ logistics và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Những kiến nghị này cho thấy, doanh nghiệp không chỉ mong muốn tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn kỳ vọng vào các giải pháp dài hạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động.
Vũ Quang