TAND tỉnh Vĩnh Long vừa phát hành bản án phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T và bà Th. Bà Th kháng cáo, cho rằng hai người có quan hệ tình cảm, nguyên đơn cho bà tiền tiêu xài chứ không phải vay mượn.
Đã chuyển khoản nhiều lần 135 triệu
Theo hồ sơ, bà T (nguyên đơn) cho rằng do có mối quan hệ quen biết, từ tháng 12-2024 đến tháng 3-2025, bà cho bà Th vay tiền nhiều lần, tổng cộng 135 triệu, bằng hình thức chuyển khoản. Mục đích vay tiền để làm ăn. Các bên không lập hợp đồng vay, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, lãi suất cho vay theo thỏa thuận là 1%/tháng. Hợp đồng vay không xác định kỳ hạn vì các bên thỏa thuận khi nào bà T có yêu cầu trả tiền thì sẽ báo trước cho bà Th.
Ảnh minh họa: AI
Đến tháng 4-2025, bà T yêu cầu bà Th trả toàn bộ nợ gốc và lãi. Sau nhiều lần hứa hẹn, ngày 22-7-2025 và 23-7-2025, bà Th đã chuyển trả cho bà T 50 triệu đồng, còn nợ bà 85 triệu. Kể từ thời điểm vay đến nay, bà Th không trả lãi cho bà lần nào. Bà nhiều lần yêu cầu bà Th tiếp tục trả hết cho bà nợ gốc còn lại và tiền lãi từ thời điểm vay đến nay nhưng bà Th không thực hiện.
Do vậy, bà T khởi kiện, yêu bà Th phải trả cho bà số tiền nợ gốc 85 triệu. Tiền lãi 1%/tháng, tạm tính là 7,1 triệu đồng. Sau đó, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần trả lãi tiền vay nêu trên.
Bị đơn bà Th trình bày, do có mối quan hệ tình cảm nên bà T có chuyển tiền cho bà nhiều lần, bà không nhớ số tiền chuyển của từng lần là bao nhiêu và tổng cộng bà T đã chuyển là bao nhiêu tiền.
Mục đích bà T tặng cho tiền là để bà sử dụng ăn uống, đi lại từ nhà của bà đến nơi bà T sinh sống. Cách đó ba tháng, bà và bà T chia tay nhau, bà T yêu cầu bà phải trả hết số tiền mà bà T đã chuyển cho bà (không nói cụ thể bao nhiêu). Do vậy, bà đã tặng cho lại bà T 50 triệu đồng.
Bà Th không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, vì giữa bà và bà T không có quan hệ vay mượn và không nợ tiền của bà T.
Bà Th thừa nhận giọng nói trong đoạn ghi âm đã được nguyên đơn lập vi bằng là giọng nói của bà. Bà xác định mình không vay mượn tiền của bà T, sở dĩ bà nói như trong ghi âm là do bà T đã cho tiền bà nên khi nói chia tay bà mới hứa sẽ “cho” tiền bà T lại chứ không phải “trả”.
Xử sơ thẩm, TAND khu vực 6 – Vĩnh Long chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Th có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T số tiền nợ gốc 85 triệu; ghi nhận bà T không yêu cầu tính lãi; đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn với số tiền lại 7,1 triệu.
Sau đó, bà Th kháng cáo yêu cầu tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Th trình bày, vì giữa bà và bà T có quan hệ tình cảm nên số tiền 135 triệu là bà T tự nguyện cho bà. Trong đó, 75 triệu là tiền bà T cho bà để phẫu thuật cắt ngực thì bà đã sử dụng 40 triệu để làm phẫu thuật. Còn lại, bà đã mượn thêm 20 triệu để chuyển cho bà T 50 triệu. Số tiền còn lại là tiền bà T cho bà để sử dụng chung, phục vụ việc ăn ở, đi chơi của cả hai. Bà không đồng ý trả 85 triệu cho bà T vì không có việc vay mượn tiền. Bà T không có chứng cứ, giấy tờ gì chứng minh việc vay tiền.
Bà T trình bày, việc bà Th vay tiền là có thật. Bà Th đã nhận đủ số tiền vay và hứa từ từ trả cho bà theo nội dung vi bằng đã lập mà không phản đối gì.
Nhận định của tòa phúc thẩm
TAND tỉnh Vĩnh Long nhận định, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không thừa nhận việc bà và bị đơn có quan hệ tình cảm mà chỉ xác định có quan hệ bạn bè. Bà Th cho rằng cả hai có quan hệ tình cảm nhưng không có chứng cứ gì chứng minh.
Bà Th. cho rằng số tiền sử dụng chung cho việc đi chơi, ăn uống của hai người nhưng không có chứng cứ chứng minh việc sử dụng tiền chung.
Mặc dù giữa hai người không có hợp đồng vay tiền nhưng bà Th có nhận 135 triệu của bà T, có sử dụng tiền do bà T chuyển. Mặc dù bà Th cho rằng bà T tự nguyện cho bà số tiền này nhưng phía bà T không thừa nhận và bà Th cũng không có chứng cứ chứng minh việc tặng cho tiền. Ngoài ra, bà Th thừa nhận giọng nói trong đoạn thoại ghi âm đã được nguyên đơn lập vi bằng là giọng nói của nguyên đơn và bị đơn.
Tòa dẫn nội dung trong đoạn ghi âm, thể hiện bà Th hứa trả tiền cho bà T khi bà yêu cầu trả 85 triệu, chứng minh bà Th có nợ tiền của bà T.
Theo tòa, tại cấp sơ thẩm, bà Th cho rằng lý do hứa như vậy là vì bà T đã cho bà tiền nên khi chia tay bà mới hứa sẽ “cho” lại chứ không phải “trả”. Tại cấp phúc thẩm, bà Th trình bày lý do hứa như vậy là do thời điểm nói chuyện thì bà không muốn người yêu của bà biết mối quan hệ giữa bà với bà T.
“Xét lời trình bày của bà Th có sự thay đổi, không thống nhất, các lý do bà đưa ra đều không thuyết phục, không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày nên HĐXX không chấp nhận lời trình bày của bà Th” – bản án phúc thẩm nêu.
Từ đó, tòa phúc thẩm cho rằng có cơ sở xác định bà Th vay của bà T 135 triệu, đã trả 50 triệu, còn nợ lại 85 triệu. Do đó, tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Bị đơn kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh cho kháng cáo của mình nên tòa phúc thẩm bác kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm.
NHẪN NAM