Một thoáng làng rừng

Một thoáng làng rừng
một phút trướcBài gốc
Thiếu nữ người Dao Bản Sưng bảo tồn và duy trì nghề truyền thống. Ảnh: Dương Quang
Nhắc đến miền núi là người ta nghĩ ngay đến độ cao và màu xanh. Độ cao tạo bởi núi đồi và màu xanh chính là đa tầng thực vật che phủ... Tuy nhiên, do con người tàn phá nên ở miền núi khắp nước ta hiện nay, nhiều nơi chỉ còn núi trống, đồi trọc chứ không còn rừng. Do đó, khó có thể có làng rừng.
Đã có mặt và sinh sống tại tỉnh Hòa Bình (cũ) gần 50 năm, tôi đã sớm biết thế nào là rừng, làng rừng... tới mức tôi có thể liên tưởng người nông dân đồng bằng Bắc Bộ ra đồng thế nào thì người miền núi vào rừng như thế. Nhưng, rồi rừng mất đi, những làng bản hầu hết chỉ còn là những làng bản miền núi chứ không còn là làng rừng. Tiếp đến tốc độ phát triển nhanh của đô thị hóa, nhà bê tông, nhà ống không chỉ phổ biến ở thành phố, thị trấn mà đã ầm ầm kéo đến các bản làng miền núi. Những làng rừng còn lại trở lên vô cùng hiếm hoi.
Nếu ý thức của con người được nâng nên đến mức tự giác gây dựng lại những làng rừng, thì cũng phải cần đến cả thế hệ chung tay. Chính lúc này, làng rừng bản Sưng xã Cao Sơn đang hiện diện ở lưng chừng núi Biều như là của quý còn sót lại không chỉ của Cao Sơn, của Phú Thọ mà là của cả quốc gia, nhân loại.
Nguyên Bí thư Huyện ủy Đà Bắc (cũ) Đinh Công Báo là người Mường sinh ra và lớn lên tại xóm Vầy xã Vầy Nưa, nay là xã Tiền Phong ngay dưới chân núi Biều phía sông Đà. Ông kể cho tôi nghe truyền thuyết về vùng này và có nhắc đến núi Biều. Thực ra tên núi là núi Niều, nhưng do chùng tên với vị tộc trưởng rất uy tín Đinh Công Niều nên người dân gọi chệch đi là núi Biều. Từ xa xưa đã lưu truyền trong dân câu ví: “Núi Biều như diều con gà. Núi Trà như mà con cua”.
Trên lưng chừng núi Biều, ở các phía đa số là các bản người Dao Tiền sinh sống (một trong hai nhánh người Dao có mặt tại tỉnh Phú Thọ). Đó là các bản: Sưng, Bai, Lanh, Mõ Nẻ, Ngù... Và vì ở lưng chừng núi, đi lại khó khăn nên một bộ phận người Dao ở các bản này “hạ sơn” xuống thấp hơn lập bản mới như bản Tằm xã Cao Sơn, bản Dướng, bản Thín, bản Lau xã Vầy Nưa ( cũ)... Tuy nhiên, cùng ở lưng chừng núi Biều, cùng là người Dao Tiền, nhưng các bản Dao khác cũng không giữ được làng rừng như bản Sưng.
Các gia đình người Dao ở bản Sưng đều ở dưới tán rừng, nhà tiếp nhà và hoàn toàn không có bờ rào dù chỉ là ranh giới tượng trưng. Rừng ngay ở ngõ, rừng vào tận sân... Tất cả những gì có trên mặt đất đều được đặt trong rừng. Thật thú vị khi những cây chò, cây đa, cây sâng, cây muồng, cây sấu... hàng trăm tuổi cao vút như những cột chống khổng lồ kéo căng tấm thảm xanh làm rợp mát xóm làng. Càng thú vị hơn khi những cây cổ thụ ấy dù đang đứng trong vườn nhà ai thì cũng là cây của chung, của làng. Dưới tán cổ thụ của chung ấy là tầng tầng, lớp lớp các cây ăn quả như nhãn, hồng bì, mít, bưởi...của các gia đình.
Nhìn những người phụ nữ Dao lặng lẽ ngồi thêu váy áo trong nếp nhà gỗ dưới tán rừng tôi chạnh lòng nghĩ đến cảnh đang trong rừng xe máy và ngột ngạt khói xăng giữa nắng hè oi ả đến ngạt thở nơi đô thị, phố phường,
Với giọng bộc trực và tưởng như hơi “ngang ngang”, ông Lý Hồng Si, nguyên trưởng bản Sưng lâu năm quả quyết: Một mình Kiểm lâm không bao giờ có thể giữ được rừng nếu không có sự tự giác bảo vệ rừng của người dân. Việc bảo vệ rừng ở bản Sưng hoàn toàn do người dân tự giác. Anh nghĩ mà xem, những cây cổ thụ trong bản có tuổi thọ hàng mấy trăm năm. Nó có trước chính quyền. Sống qua nhiều đời chính quyền. Nếu không do người dân thì ai mới có thể bảo vệ được nó cao xanh cho đến hôm nay.
Bảo vệ rừng được chúng tôi ghi ngay ở những dòng đầu, trang đầu trong “Sổ làng” từ đời này qua đời khác. Thấy nhắc đến “Sổ làng”, tôi ngạc nhiên hỏi, thì mới ngỡ ngàng được biết: Đó là quyển sổ lớn đóng bằng giấy dó, viết chữ Dao bằng mực tầu. Mỗi gia đình có riêng một số trang ghi rõ tên từng người và việc chấp hành quy định của làng về bảo vệ rừng; về việc cưới, việc tang, việc nghiêm cấm sử dụng ma túy...
Trong năm, gia đình nào có vi phạm phải xử lý đều được ghi vào sổ làng. Hàng năm vào ngày mồng Bốn Tết Nguyên Đán, làng tổ chức họp và mang sổ làng ra kiểm điểm từng người, từng nhà vi phạm. Việc bảo vệ rừng, liên quan đến rừng luôn được coi trọng và thường được quan tâm rà soát đầu tiên...
Trong ngôi nhà lá mát rượi khi hè tới, ấm áp lúc đông về, tôi vừa nhẩn nha bát rượu hoãng men rừng, vừa nghe chuyện về rừng, về cây, về làng mới thú vị làm sao. Có những chuyện rất thực, nhưng được người dân liên tưởng, ví von và đang đi vào cổ tích. Ví như chuyện về cây đa cổ thụ giữa làng được gọi tên là cây đa “cái”.
Đây là cây đa mọc trên chạc của một cây vàng tâm lớn. Do giống đa phát triển nhanh tỏa rễ xuống. Người dân giữ lại hai rễ lớn của cây đa cho mọc xuống đất thành cây đa hai thân như hai chân người đứng trên đất.
Đa lớn nhanh, đến độ thay thế cây vàng tâm. Chỗ bắt đầu hai nhánh đa ngậm lại đoạn thân vàng tâm. Phần gỗ vàng tâm ấy mục dần do mưa nắng và rỉ nước màu nâu chảy xuống hai thân cây đa. Bà con người Dao ở đây ví hình ảnh này giống như người phụ nữ “đến tháng” nên họ gọi cây đa ấy là cây đa cái. Khi cây đa thành cổ thụ. Phần gỗ vàng tâm bị mất hẳn thì không còn thứ nước màu nâu chảy ra nữa. Như thế có nghĩa là cây đã già chứ không còn là cây đa tuổi con gái nữa nhưng vẫn là cây đa cái.
Phải chăng, cây đa mang bóng mát chở che con người và chính con người lại thổi hồn vào cây, mang cho cây sự “linh thiêng” để trường tồn, để tiếp tục che chở cho các thế hệ người Dao Tiền bản Sưng xã Cao Sơn này. Tôi tin, những cây chò, cây gội, cây muồng, cây sấu... cổ thụ ở bản Sưng đều đã và đang trở thành cây cổ tích giữa lưng núi Biều hùng vĩ. Và phải chăng, đây cũng chính là một biện pháp bảo vệ cây, bảo vệ rừng độc đáo của người Dao bản Sưng!
Lê Va
Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ
Nguồn Phú Thọ : https://baophutho.vn/mot-thoang-lang-rung-247170.htm