Tan hoang sau một đợt chiến đấu.
Sự tàn khốc của chiến tranh
Khi rạp tối dần, tiếng nhạc ngân lên, từng hình ảnh hiện ra đưa người xem ngược thời gian, trở lại khúc bi tráng của dân tộc. Lấy bối cảnh năm 1972, “Mưa đỏ” đi theo diễn biến 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị - trận chiến khốc liệt đã góp phần quan trọng, tạo ra bước ngoặt trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, mở đường cho đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhân vật trung tâm - Cường (Đỗ Nhật Hoàng đóng) - sinh viên Nhạc viện, hào sảng, giỏi võ. Anh từ bỏ cơ hội du học để lên đường nhập ngũ. Trong những ngày chiến đấu ở Quảng Trị, Cường kề vai sát cánh bên tiểu đội, gồm Tạ - đội trưởng, Bình, Tú, Hải, Sen... Họ đến từ những vùng quê khác nhau, xuất thân, tính cách khác biệt nhưng cùng mục tiêu chiến đấu vì hòa bình.
Trong phim là sự hồn nhiên của những cậu con trai mới lớn, rời mái trường phổ thông hoặc dừng học vào chiến trường, là ánh mắt trong veo và hào hứng khi nhìn ở bên bờ Nam của sông Bến Hải ánh sáng của bom dội, âm thanh của súng đạn, để rồi họ khao khát được chiến đấu. Ấy thế mà nhanh hơn cái chớp mắt, bàn tay họ phải nắm chặt khẩu súng, miệng không nuốt nổi miếng cơm trắng dù bụng đói cồn cào; tiếng gào thét của những người thương binh khi bị cưa sống hai chân; và sự câm lặng với những cái cúi đầu tiễn biệt người đồng đội vừa mới quen, vừa mới biết tên.
Càng về cuối, câu chuyện càng dữ dội, quân số tiểu đội 1 - hiện thân của “Bắc - Trung - Nam cùng ra trận” - dần vơi đi sau mỗi trận càn. Chiến tranh đã “ngốn” không biết bao gương mặt non tơ; và làm tơi tả thân xác họ. Nhưng trong cái đau đớn nhất, buồn thương nhất thì họ vẫn phải sống. Khoảnh khắc một chiến sĩ hát giữa bom rơi, hay cái nhìn lặng im giữa hai người bạn cùng tiểu đội. Những chi tiết nhỏ thôi, nhưng đủ làm nhói tim những người xem.
Rất đời và cũng rất lớn lao
Những ai đã từng đọc tác phẩm của nhà văn Chu Lai, hẳn sẽ nhận ra mạch ngầm dữ dội trong văn chương ông: sự khốc liệt tận cùng nơi Thành cổ Quảng Trị, nơi từng tấc đất đều thấm máu người lính.
Chiến trường không chỉ có máu và khói, mà còn có những ước mơ dở dang: một cậu học trò chưa kịp thi tốt nghiệp, một cô gái mang theo nỗi nhớ quê nhà, một chàng trai bỏ lại cây đàn dở dang; người lính chỉ kịp cất tiếng gọi mẹ trước khi mãi mãi nằm lại dưới dòng Thạch Hãn... “Chúng tôi chết để Tổ quốc sống”, tuổi 20 của họ thành sóng nước.
Các nhân vật được xây dựng đậm chất anh hùng ca, nhưng vẫn chân thực, bộc lộ những khía cạnh rất “con người”. Khi đi được hơn một nửa cuộc chiến, chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh, lại đối diện với điều kiện khắc nghiệt, họ có lúc cộc cằn, xuống tinh thần, nhưng nhanh chóng vực nhau dậy. Tấn, một trong những chiến sĩ bổ sung vừa thoát chết sau khi vượt sông, hoang mang vì ngay lập tức đối diện bom đạn. Tạ để lộ phút yếu đuối khi thấy một người lính phía bên kia ôm ảnh của vợ con, khiến anh không thể ra tay. Khi cấp trên huy động lực lượng chiến đấu cho trận đánh cuối cùng, Cường từng băn khoăn, do dự vì người yêu đang chờ, cuối cùng vẫn quyết định đi cùng đồng đội.
Giữa khói bom, bộ phim vẫn gieo nhiều khoảng sáng đời thường. Nhân vật Tạ - anh lính Thanh Hóa quê mùa, chân chất mà thông minh, hóm hỉnh - để lại dấu ấn đặc biệt. Tiếng nói của Tạ như bật ra từ đồng đất, mang khí chất người lính: “Đã gánh hai thằng sinh viên chỉ biết cầm bút, giờ thêm một thằng vắt mũi chưa sạch thì đánh đấm chi bay?” Hay cái tếu táo rất “Thanh Hóa”: “Tau tên Tạ mà mi hẳn Tấn thì kinh rồi!”. Những người lính đã phải lấy tiếng cười để xua đi cái mệt nhọc, quên đi cái chết rình rập, để khẳng định rằng giữa tận cùng khốc liệt, người lính vẫn giữ được niềm tin, sự lạc quan và khát vọng mãnh liệt.
Phút nghỉ ngơi của các chiến sĩ giữa trời mưa như trút.
Đặc biệt, gần cuối phim, khi Cường và Quang quần nhau đến kiệt sức nằm vật ra, trên tay mỗi người là một nửa chiếc khăn của Hồng. Hai nửa khăn tạo thành hình chữ S - hình tượng của nước Việt Nam. Dẫu chia cắt nhưng vẫn là một dải đất quê hương. Khát vọng bảo vệ mảnh đất thân yêu chính là khát vọng chung của mọi người dân. Bởi thế mà dẫu cho thịt nát xương tan, dẫu tất cả tan vào khói lửa thì cũng đã hóa thành điều lớn lao mang tên Tổ quốc.
Điều đó đã làm nên sức mạnh tinh thần của người lính và của cả dân tộc: từ máu đỏ năm xưa đã nảy mầm những mùa xanh của hòa bình hôm nay.
Và những tiếng khóc sụt sùi
Mưa đỏ, một trong rất ít bộ phim điện ảnh Việt Nam làm bất kể ai xem cũng có thể cười trước đó và khóc sau đó. Nhiều tiếng sụt sịt trong rạp chiếu phim, cho thấy bộ phim đủ chạm đến tâm hồn của nhiều người. Chẳng thế mà chỉ sau 3 ngày công chiếu chính thức, “Mưa đỏ” đã vượt mốc 100 tỷ đồng.
Có những thứ đối lập được đạo diễn dựng lên. Nếu Cường “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu” vì lý tưởng bảo vệ Tổ quốc, thì ở bên kia chiến tuyến, ở vai trò sĩ quan, Quang lại thiên về tham vọng và sự hiếu thắng tuổi trẻ. Họ đều là thanh niên ưu tú với nhiều phẩm chất tốt, nếu không phải vì chiến tranh thì đã có thể là bạn. Phía sau hai chàng trai là hai người mẹ, dù là 2 chiến tuyến nhưng họ có cùng nỗi đau mất con. Hình ảnh hai bà mẹ đến viếng con cái họ trên bờ sông Thạch Hãn ở cuối bộ phim thật buồn và cũng thật đẹp. Sự khép lại ẩn ý này là cái nhìn rộng mở, vị tha của con người hôm nay về chiến tranh. Sau tất cả thì phim khép lại không phải ở sự hận thù, mà chính hiện thực tàn khốc của chiến tranh, sự đớn đau tận cùng của những số phận, tiếng gào thét Mẹ ơi, Vợ ơi... khủng khiếp và ám ảnh hơn rất nhiều.
Khi ánh sáng trong rạp bật lên, những giai điệu cuối cùng khép lại, thì những hình ảnh xám xịt cũng dần tắt và lòng tôi chùng xuống. Có cái gì nghèn nghẹn, một lần nữa nhói tim, vừa tự hào, vừa biết ơn, vừa khâm phục, vừa thương cảm. Bình yên hôm nay được đổi bằng máu và sự hy sinh tuổi trẻ của biết bao con người. “Mưa đỏ để cho trời xanh mãi mãi” là một nén hương thắp lên trong lòng người xem, để mỗi người hôm nay cúi đầu tưởng nhớ và ngẩng đầu bước tiếp - biết trân trọng hòa bình, và biết sống xứng đáng.
Chi Anh