Mùa gió Lào thổi 'vàng' đường làng

Mùa gió Lào thổi 'vàng' đường làng
3 giờ trướcBài gốc
Tuổi thơ trôi theo cùng nhịp bước của những chú trâu. Ảnh: N.K
Ba mươi năm nhìn lại, những lát cắt ấy giờ đã thành “đặc sản” của một thời gian khó nhưng đầy ắp ân tình. Với những người con miền Trung, mùa hè không chỉ là một mùa trong năm, đó còn là mùa “thử lửa”.
Thủa trước, cái nắng cháy da người của xứ Nghệ lại được xoa dịu bằng màu vàng của rơm mới, bằng vị nước chè xanh chát ngọt và những kỷ niệm êm đềm dọc những con đường làng quanh co của ba mươi năm về trước.
Tranh nhau chỗ phơi rơm
Nghệ An những năm 1990 trong tôi là cái nóng hầm hập mang tên Gió Lào. Những cơn gió khô khốc thổi từ dãy Trường Sơn sang, cuốn theo hơi nóng của đá núi, khiến vạn vật như héo rũ.
Thế nhưng, đó lại là thời điểm người nông dân mong đợi nhất để bước vào vụ gặt. Ngày ấy, rơm rạ là “báu vật”. Nó không chỉ là thức ăn dự trữ cho trâu bò trong những tháng đông giá rét mà còn là chất đốt chính trong gian bếp của mọi gia đình. Thế nên, chuyện “tranh nhau” chỗ phơi rơm là điều mắt thấy tai nghe mỗi ngày.
Mới buổi sáng nhưng “nắng đổ lửa”, người nông dân vội vã ăn bát cơm rồi đi gặt lúc trời còn chưa rõ. Đường làng quê tôi ngày ấy không phải nhựa, mà đường đất mỗi độ mưa xuống thì bùn dẻo mấy ngày sau vẫn chưa khô lại.
Nhưng khi mùa gặt về, màu đất ấy bị che lấp hoàn toàn bởi sắc vàng của rơm rạ. Người dân quê tôi tận dụng từng tấc đất từ sân kho đến lối vào nhà thờ, từ lề đường cho đến những gò đất cao đều được trưng dụng để phơi rơm.
Cái cảnh tranh nhau chỗ phơi rơm cũng khốc liệt như cái nắng miền Trung vậy. Nhà nào ít người, gặt muộn về chưa tuốt lúa được là mất chỗ phơi rơm “đẹp”. Cái nỗi lo lớn nhất của người nông dân thời đó là những cơn mưa rào bất chợt.
Đang giữa cái nắng như đổ lửa, mây đen kéo đến là cả làng nháo nhào. Rơm phơi không kịp thu dọn, gặp mưa ngâm nước vài ngày sẽ chuyển màu thâm đen, mục nát.
Rơm rạ với người xứ Nghệ thời đó quý lắm, bởi đây là vùng đất thường xuyên bão lũ, rơm phải phơi thật khô, chất thành những đống rơm (đụn rơm) cao ngất ngưởng trong ngõ để làm thức ăn cho trâu bò qua mùa mưa rét, và để dùng nấu đồ ăn trong bếp.
Khoảng thời gian đó, điện lưới còn hạn chế, chưa có bếp gas nên người nông dân tích trữ rơm, rạ để đun nấu và còn lên rừng để lấy lá thông rụng, nhánh cây để giữ trữ thêm mới đủ nguồn nấu ăn.
Rơm rạ: “công viên giải trí” khổng lồ
Trong khi người lớn tất bật với nỗi lo cơm áo, thì với lũ trẻ chúng tôi, mùa phơi rơm chính là mùa của những cuộc phiêu lưu bất tận. Ba mươi năm trước, nông thôn chưa biết đến điện thoại thông minh, ti vi màu lại càng là một món đồ xa xỉ mà cả xóm chỉ đôi nhà có được.
Giải trí của đám trẻ chỉ gói gọn trong những trò chơi dân gian rồng rắn lên mây, bắn bi, và kinh điển nhất là trốn tìm.
Trong ký ức của đám trẻ miền quê hồi đó, rơm rạ là một “công viên giải trí” khổng lồ. Những đống rơm vừa mới tuốt xong, còn xanh màu mạ và thơm nồng nhựa sống, được đổ đống bên vệ đường chờ rải ra. Đó chính là nơi cho những trò trốn tìm.
Chúng tôi khoét sâu vào lòng đống rơm, tạo thành những cái hang mát rượi. Có những buổi chiều, gió Lào thổi rát mặt bên ngoài, nhưng trong lòng đống rơm tươi, hơi ẩm của thân lúa lại tạo ra một cảm giác dễ chịu kỳ lạ. Có những buổi tối, đứa trẻ nào trốn kỹ quá, bạn chơi tìm không ra rồi ngủ quên lúc nào không hay.
Những giấc ngủ quên bên lề đường, giữa mùi rơm rạ ngai ngái ấy, thường kết thúc bằng tiếng gọi thất thanh của người nhà như cha, mẹ, anh chi em đi kiếm!
Phiêu lưu cùng rơm .
Làng quê xứ Nghệ 30 năm trước bình lặng đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng chó sủa và đoán ra chó nhà ai từ đầu xóm. Phương tiện vận chuyển chủ yếu là những chiếc xe bò kéo. Những con bò, con trâu thong dong kéo những chuyến xe lúa đầy ắp, bánh xe lăn chậm rãi trên nền đất đá lổm chổm.
Không có xe máy, không có ô tô sự an toàn thời ấy là một điều ngày nay ít thấy. Những bác nông dân đội nón lá, vai vắt chiếc khăn ướt sũng mồ hôi, vừa dắt bò vừa hò mấy câu ví dặm chiều về. Họ bước đi giữa những đứa trẻ đang lăn lộn trong rơm rạ một cách nhịp nhàng, con bò cũng hiền lành, cứ thế chậm rãi đi qua an toàn nơi những đứa trẻ trên đường làng.
Tai nạn do xe cộ là một khái niệm xa xỉ, bởi cuộc sống khi ấy dường như đang trôi đi theo nhịp bước của con trâu, con bò chậm rãi và đầy thong dong. Sự an toàn ấy không đến từ luật lệ giao thông khắt khe, mà đến từ sự quan sát và tình làng nghĩa xóm gắn kết.
Bát chè xanh và nỗi nhớ về thời “không điện”
Cái nắng miền Trung khắc nghiệt là thế, nhưng tình người lại mặn mà như muối biển. Trong cái tĩnh lặng của mùa hè không điện, không tivi, không điện thoại, niềm vui duy nhất là những buổi tối tụ họp đầu ngõ hay hiên nhà.
Người Nghệ xưa không thể thiếu bát chè xanh om lá đặc sánh. Người lớn uống chè, bàn chuyện mùa màng; đám trẻ con ngồi nghe kể chuyện “cổ tích” và chuyện cũ của ông bà dưới ánh trăng bên những đống rơm. Khi chưa có quạt điện, bàn tay của bà, của mẹ là nguồn gió.
Tiếng quạt nan sột soạt hòa cùng tiếng võng kẽo kẹt đã đưa bao thế hệ người miền Trung lớn lên, đi xa và rồi luôn đau đáu ngoảnh đầu nhìn lại.
Xứ Nghệ bây giờ đã khác. Gió Lào vẫn thổi, nhưng đường làng đã thênh thang nhựa nóng. Những cây rơm cao vút biến mất, thay vào đó là những mái nhà cao tầng.
Thế nhưng, cứ mỗi độ hè về, khi thấy một vệt nắng hanh vàng trải dài trên hiên nhà phố, lòng những kẻ tha hương lại đau đáu nhớ về mùi rơm rạ cũ. Nhớ cái thời mà hạnh phúc chỉ đơn giản là tìm được một đống rơm thật êm để nằm xuống, mơ một giấc mơ không vướng bận lo âu, giữa cái nôi thơm nồng của đất mẹ.
Trong thẳm sâu tâm hồn mỗi người dân quê, mùi thơm của rơm nắng, tiếng lục lạc xe bò và những giấc ngủ quên bên lề đường làng vẫn là một miền ký ức không gì có thể đánh đổi, nơi có một tuổi thơ chân chất, dù thiếu thốn đủ đường nhưng lại giàu có đến lạ kỳ trong những kỷ niệm về rơm rạ quê hương.
Nguyễn Minh Thanh
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/mua-gio-lao-thoi-vang-duong-lang/