Thập niên 1990, khi chúng tôi còn trung niên…
Chúng tôi đã góp phần làm nên nhiều mùa xuân nho nhỏ cho nhạc Việt bằng loạt album Tình khúc vượt thời gian. Đó là những sản phẩm khá lạ lùng. Có thể nói trước đó và cả sau này không hề có được những câu chuyện âm nhạc nhỏ nhẹ, thấm sâu, sang trọng, đầy tình yêu và hào khí, đầy hoài cảm, được làm một cách tử tế đàng hoàng và chăm chút đến vậy.
Khi đó chúng tôi chưa nghĩ đến dư âm hay tiếng vọng. Không hình dung được những vật phẩm văn hóa đó có thể sống sót tới bữa nay. Chẳng những còn mà còn một cách lấp lánh sau nhiều chục năm ngành giải trí loạn lạc, chết đi sống lại, bị khuynh loát, bị biến dạng.
Những câu chuyện “bao giờ cho tới ngày xưa” này nhiều lắm. Khi nhớ lại nó vẫn như mới hôm qua hôm kia, không phôi pha chút nào.
Tết 1995.
Đó là mùa xuân cuối cùng của một người hiền.
Tôi nhớ người ấy rất nhiều. Không chỉ riêng tôi, chúng tôi ai cũng nhớ. Ký ức đậm sâu như những bậc thang rêu phong, bày cả ruột rà gạch đỏ nâu và vôi vữa loang lổ của ngôi nhà 108 Yết Kiêu, Hà Nội.
Văn Cao mỉm cười chờ chúng tôi, đoàn người miền Nam hăm hở ra ghi hình làm phim về ông.
Ông đặc biệt thích đưa chuyện với đạo diễn Đinh Anh Dũng. Có thể vì Dũng từng học Trường Đại học Điện ảnh Sân khấu Hà Nội, có nhiều bạn bè Hà Nội. Ông cười tít mắt, mái tóc bạc rung nhè nhẹ sảng khoái khi nghe Dũng “trêu” hay liệt kê những tật này, tật nọ cố hữu của giới văn nghệ Hà Nội. Ông hay nói: “Tớ cũng thế, có khác gì. Hề hề…”.
Ông và Dũng say sưa. Chúng tôi, kể cả nàng lanh lẹ, lảnh lót như Ánh Tuyết, cứ ngồi hóng hớt, nghe những truyền kỳ hấp dẫn về Hà Nội, Hải Phòng… thời tiền chiến, hậu chiến, những hành tung bí hiểm và liều mình của ông một thuở trai tráng ngang dọc, những oan khuất âm thầm, cả xuất xứ của từng bài hát.
Nhưng lúc lắng đọng, Dũng lại tả về ông: “Đối với tôi, ông là một ông già tóc trắng lặng lẽ. Khung cảnh của ông là căn phòng khách. Vật duy nhất trong nhà có giá trị là chiếc đàn piano màu nâu đen cũ kỹ, còn tất cả lộ lên vẻ nghèo nàn không giấu nổi, kể cả chiếc ghế mây ông ngồi, được vá víu bằng những sợi nylon nhiều màu sắc khác nhau. Ông một mình bên ly rượu, lọt thỏm trong chiếc áo màu xám đậm. Ông nói chậm rãi, thỉnh thoảng cười rồi uống một ngụm. Tôi nghĩ đó là hình ảnh “Văn Cao” nhất. Một người cô độc hiền hòa”.
Từ trái: Đinh Anh Dũng, Văn Cao, Thanh Thủy, Trinh Hoan. Ảnh: TLTG
Ông rời chiếc ghế mây bất ly thân, cùng chúng tôi băng qua những miền ký ức của chính mình. Cả một chương trình ca nhạc in dấu ông với cảnh sắc của Hà Nội và miền Bắc. Không hiểu sao, ông rất yếu, đi không vững mà lại có thể đi bộ nhiều ngày, lặn lội khắp nơi, ăn ngủ với đoàn phim như vậy. Chúng tôi trải qua mưa nắng, qua Suối mơ, rồi Bến xuân, rồi Sông Lô (quay trên sông Đà) mênh mang hùng vĩ.
Cuộc du hành không phải chỉ toàn niềm vui. Có lẽ ông không biết chúng tôi rất căng thẳng hồi hộp vì chuyện làm phim về ông lúc đó còn nhiêu khê về phép tắc thủ tục lắm. Khi được phép, lúc cấm quay. Có hôm đang lênh đênh trên sông Đà, tôi còn nhận được lệnh phải rút đoàn về, không ghi hình nữa.
Lần đầu tiên chúng tôi làm phim thương mại mà từ đầu tới cuối, nhân vật chính là ông già lững thững đi, nói ít, khi khúc chiết lưu loát, khi e dè ngập ngừng. Về Sài Gòn, ngồi dựng phim, chúng tôi luôn phải trả lời câu hỏi của nhiều người: “Ông già đó là ai vậy?”. “Ổng có nổi tiếng không?”. “Phim gì có một ông già chống gậy đi tới đi lui, làm sao mà bán?”...
Chúng tôi cười, cố gắng tự tin nhưng run trong lòng.
Nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra, băng hình mang tên ông (1) bán chạy lạ lùng. Khán giả trẻ nô nức xem, người sành điệu hoan hỉ, nhạc tiền chiến trở mình sống lại, chúng tôi nao nức mở ra một dòng chảy mới, chảy hoan ca, rộn rã tưng bừng đến hàng chục năm sau. Đó là chuỗi Những tình khúc vượt thời gian, Tác giả và tác phẩm…(2)
Tôi nhớ bài Mùa xuân đầu tiên. Tôi đã chọn Thanh Thúy hát. Trong nhiều chuyện trò, Văn Cao không nhắc ca khúc đó. Chúng tôi tọc mạch khơi đống tro tàn vì tôi thích điệu luân vũ rộn ràng, nhanh và vui, rất cần cho một chương trình đã có nhiều bài hát buồn. Tôi nói với ông tôi rất yêu đoạn nầy: … mùa xuân đang đến, đầu tiên, với khói bay, trên sông, gà đang gáy trưa…
Văn Cao vui lắm. Rất từ tốn, ông kể cho tôi nghe hành trình gian nan của bài hát (3). Những suy diễn ác ý, những khúc mắc nghi kỵ, mổ xẻ và quy kết đến từng giai điệu, ca từ. Tôi nghe mà ngạc nhiên. Có một bài hát thôi, sao mà nó nhiều tội dữ vậy!
Văn Cao nhẹ nhàng: “Đối với tôi, mùa xuân trong bài hát đó là một giấc mơ chưa qua. Tôi mơ về mùa xuân của tình yêu con người, mơ người ta hòa hợp và mở lòng với nhau. Không ngoảnh mặt và dè bỉu nhau nữa. Mùa xuân của lòng người. Đất trời chỉ vui theo thôi. Tôi viết với tâm thức đó”. Ý của ông thâm trầm là vậy. Nhưng Mùa xuân đầu tiên đối với Thanh Thúy, 17 tuổi, có lẽ đơn thuần là một mùa xuân hữu hình của tuổi trẻ căng đầy, phơi phới. Mà đúng vậy thật. Đó là mùa xuân văn nghệ đầu tiên cô ca sĩ miền Nam “mới ra ràng”. Thúy nói: “Lần đầu tôi được mời tham gia một album tác giả lớn như vậy. Lời bài hát hay quá, tôi nghĩ đến mùa xuân thống nhất năm 1975 dù lúc đó tôi chưa sinh ra. Tôi hát say sưa. Hát bằng những rung động tươi tắn. Hát lần đó là hay nhất, sau này dù kỹ thuật phòng thu đã tối tân hơn, tôi cũng không hát được như vậy nữa”.
Tôi rất ưng tiếng hát quá đỗi trong trẻo thanh tân đó, càng không ngờ Mùa xuân đầu tiên rộn rã vang khắp non sông, chắp cánh cho tên tuổi Thanh Thúy.
Thanh Thúy giờ là một quan chức ngành văn hóa, chững chạc, tận tụy, “có tâm”. Chắc chắn Thúy không thể nào quên được bài hát ấy.
Trong băng hình, chúng tôi đặc tả bàn tay Văn Cao nắn nót viết mấy chữ mùa xuân đầu tiên. Dòng chú thích hiện ra: Những hình ảnh này được quay vào mùa xuân cuối cùng của cố nhạc sĩ Văn Cao (mùa xuân 1995).
Vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao - Thúy Băng tại chợ hoa tết Hàng Lược (ảnh trên); và thủ bút Văn Cao được đoàn làm phim ca nhạc Văn Cao - Buổi sáng có trong sự thật quay vào mùa xuân cuối cùng của ông 1995 (chụp từ đoạn phim bài hát Mùa xuân đầu tiên với tiếng hát Thanh Thúy)
Mùa xuân cuối cùng ấy, ông đã làm gì?
Đinh Anh Dũng đi định cư ở Mỹ sau khi làm xong album thứ nhất: Văn Cao - Giấc mơ một đời người. Trước tết năm 1995, Dũng gọi về cho tôi: “Dũng linh cảm và thấy thôi thúc. Vậy Thủy cử một người quay phim ra Hà Nội liền, quay giùm Dũng hình bác Văn đi chợ Tết. Nhớ đi liền nha Thủy”.
Tôi và Trinh Hoan cùng đi. Lần đầu tiên chúng tôi nếm mùi rét mướt, mưa phùn lướt thướt của giáp Tết Hà Nội. Văn Cao lại vui vẻ rời nhà ra chợ hoa Hàng Lược. Cũng là lần đầu tiên mấy đứa phương Nam nắng ấm, lộc ngộc, lơ ngơ mới biết chợ hoa Hàng Lược là gì? Là một con đường ngắn ngủn, đầy những người dân cầm những cành đào to, nhỏ, ngắm ngắm chọn chọn, mua bán mặc cả trên tay nhau. Văn Cao chống gậy, cùng phu nhân Thúy Băng đi trong dòng người, cười với cụ già em bé, có khi ông giơ tay chào họ, như một vị nguyên thủ áo vải cơ hàn đi duyệt binh dân gian… Dân chúng nhận ra ông, gọi tên ông, hai bên vui quá là vui, thành một sự kiện nho nhỏ đầm ấm đặc biệt dưới mưa xuân. Những hình ảnh này đúng là xuất thần, quý hơn vàng mà chúng tôi còn giữ được, tươi nguyên đến tận hôm nay.
Ông còn cho chúng tôi ghi những cảnh tại nhà, cảnh ông ngồi xem con gái đánh đàn; cảnh ông trầm ngâm bên cây đàn, ly rượu, đặc biệt là cảnh ông chơi đàn piano bằng đôi tay rất đặc biệt, rộn rã, điệu nghệ, đặc trưng và độc đáo của nghệ sĩ Văn Cao...
Xong việc, chúng tôi chia tay ông, hối hả bay về cho kịp giao thừa Sài Gòn.
Biệt ly từ đó. Mùa hè đến, ông ra đi.
May mắn sao, Dũng từ Mỹ về thăm nhà thì nghe tin ông. Dũng lập tức bay ra Hà Nội ngay. Chúng tôi lại hối hả vác máy móc ra thủ đô ghi hình về ông, chỉ khác là lần này ông không chờ đợi ở căn nhà phố Yết Kiêu và cười hiền với chúng tôi nữa. Ông nằm lặng lẽ giữa một hội trường to. Và đám đông khổng lồ vây quanh.
Những ngày tháng phiêu du cùng Văn Cao là thời gian thăng hoa, lãng mạn trong cảnh sắc thiên nhiên và âm nhạc, vô cùng ấm áp (mà mỗi chúng tôi không thể tìm lại sau này). Đó thật sự là hạnh phúc. Và ký ức nghề nghiệp quý giá.
Những khoảnh khắc ngắn ngủi bên chúng tôi, tôi thấy ông vui thật sự, vui như hiếm khi lắm ông mới được vui.
Thanh Thủy
___________
(1) Hai bộ phim ca nhạc về Văn Cao được sản xuất năm 1994 và 1996 bởi Hãng phim Trẻ, TP.HCM: Văn Cao - Giấc mơ một đời người; Văn Cao - Buổi sáng có trong sự thật
(2) Có thể nói, dù chưa thật hoàn hảo, nhưng những tác phẩm này có thể xứng đáng là chứng nhân cho một thời kỳ rực rỡ nhất của nhạc Việt
(3) Số phận long đong của Mùa xuân đầu tiên kéo dài tới 20 năm, phải đến sau ngày Văn Cao mất (10.7.1995), bài hát mới được biết đến rộng rãi (theo Wikipedia)