Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN TÙNG HƯNG, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 86:
Thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, rộng khắp, hiệu quả trong toàn quân
Với chức năng tham mưu cho Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin, Bộ tư lệnh 86 đã tham mưu cho QUTƯ, Bộ Quốc phòng kịp thời triển khai hiệu quả các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của QUTƯ; đề xuất với thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành chỉ thị về tăng cường công tác phát triển, quản trị các cơ sở dữ liệu (CSDL) cấp bộ, CSDL chuyên ngành trong Bộ Quốc phòng; triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong Phong trào “Bình dân học vụ số” của Bộ Quốc phòng.
Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tham quan mô hình kho vũ khí đạn ứng dụng công nghệ mới tại Kho KV1, Cục Quân khí, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật. Ảnh: LA DUY
Đồng thời, Bộ tư lệnh 86 ban hành 3 quy định, 3 quy chế, 3 hướng dẫn và văn bản công bố danh sách phần mềm, ứng dụng dùng trong Bộ Quốc phòng cho các cơ quan, đơn vị toàn quân; triển khai 4 phần mềm dùng chung, ứng dụng trao đổi tin nhắn đa phương tiện QiMe (đã có hơn 140.000 tài khoản); tham mưu xây dựng và đưa vào sử dụng nền tảng “Bình dân học vụ số Bộ Quốc phòng” trên cả internet và mạng máy tính quân sự, thu hút hơn 30 triệu lượt truy cập; hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng Trung tâm dữ liệu Bộ Quốc phòng miền Bắc đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn công nghệ tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc gia...
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Tùng Hưng, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 86. Ảnh: LÊ MẠNH
Thời gian tới, Bộ tư lệnh 86 tiếp tục thực hiện tốt vai trò là Cơ quan Thường trực của Ban chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo, CĐS, thực hiện Đề án 06, cải cách hành chính; tham mưu cho thủ trưởng Bộ Quốc phòng triển khai hiệu quả Đề án CĐS trong Bộ Quốc phòng giai đoạn 2026-2030 sau điều chỉnh. Thúc đẩy xây dựng, cập nhật và đưa vào khai thác sử dụng các CSDL cấp bộ, CSDL chuyên ngành theo danh mục đã được phê duyệt; triển khai Kế hoạch phát triển và ứng dụng dữ liệu số trong Bộ Quốc phòng đến năm 2030.
Để góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác CĐS trong toàn quân, Bộ tư lệnh 86 xác định tập trung vào 3 trọng tâm: Nghiên cứu di động hóa toàn bộ hoạt động chỉ đạo, điều hành; tiếp cận làm chủ công nghệ điện toán đám mây, xây dựng lộ trình cụ thể để chuyển dịch toàn bộ các hệ thống phục vụ công tác CĐS lên nền tảng điện toán đám mây; nghiên cứu, phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), thông minh hóa các ứng dụng, nền tảng hiện có.
------------------------------------------------
Chuẩn đô đốc, PGS, TS NGÔ THÀNH CÔNG, Giám đốc Học viện Hải quân:
Đột phá xây dựng “nhà trường thông minh”
Xác định thực hiện CĐS trong đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục-đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH) là xu hướng tất yếu và đòi hỏi cấp thiết, Học viện Hải quân đã phát huy nội lực, huy động nhiều nguồn lực để đầu tư đồng bộ, hiện đại hóa hệ thống hạ tầng công nghệ, bảo đảm phục vụ tốt công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý. Đến nay, toàn Học viện đã hoàn thành xây dựng mạng nội bộ tốc độ cao (LAN), kết nối liên thông giữa các cơ quan, khoa, đơn vị. Hệ thống máy chủ dữ liệu được bảo mật đa tầng; nhiều phòng học thông minh, phòng học mô phỏng thực hành được đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả.
Chuẩn đô đốc, PGS, TS Ngô Thành Công, Giám đốc Học viện Hải quân. Ảnh: TỨ SƠN
Tại Trung tâm Huấn luyện mô phỏng tác chiến, học viên có thể điều khiển mô hình tàu chiến, phối hợp tác chiến trong môi trường ảo gần như thật, có đầy đủ yếu tố sóng, gió, radar, sonar và liên lạc vô tuyến. Bên cạnh đó, Học viện Hải quân đã số hóa toàn bộ giáo trình, tài liệu và đưa vào lưu thông nội bộ (trừ tài liệu mật); có hơn 2.700 tài liệu số hóa được tích hợp phần mềm quản lý chuyên dụng. Đồng thời, từng bước xây dựng trung tâm dữ liệu, học thuật số, phòng điều hành đào tạo thông minh và trung tâm mô phỏng thực tế ảo phục vụ huấn luyện tàu mặt nước và tàu ngầm.
Cùng với đó, xác định con người là trung tâm, là chủ thể của CĐS, Học viện đã có nghị quyết, kế hoạch hành động cụ thể xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có khả năng thích ứng nhanh với môi trường số hóa. Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng thiết kế bài giảng điện tử, tập huấn sử dụng các phần mềm mô phỏng và hệ thống quản lý học tập cho giảng viên; khuyến khích giảng viên trẻ tham gia các nhóm NCKH, câu lạc bộ sáng kiến, nhóm CĐS cấp Học viện. Đặc biệt, việc đưa nội dung “năng lực số của giảng viên” vào tiêu chí đánh giá thi đua, xét danh hiệu và chức danh chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ, giảng viên đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào học tập, NCKH.
Những kết quả đạt được trong phát triển đội ngũ giảng viên và đầu tư cơ sở vật chất đang tạo tiền đề vững chắc để Học viện Hải quân từng bước xây dựng mô hình “nhà trường thông minh”, “Học viện Hải quân số”, phục vụ hiệu quả mục tiêu xây dựng Quân chủng Hải quân hiện đại.
------------------------------------------------
Đại tá, TS TRẦN NGỌC HÀ, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Phòng không-Không quân:
Tập trung nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm tiên tiến
Là trung tâm NCKH hàng đầu của Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), Viện Kỹ thuật PK-KQ áp dụng các cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; mạnh dạn bổ nhiệm cán bộ trẻ có năng lực vào những vị trí chủ chốt, xây dựng môi trường công tác thân thiện, có nhiều cơ hội phát triển để giữ nhân lực chất lượng cao. Hiện nay, 95% cán bộ nghiên cứu của Viện có trình độ thạc sĩ trở lên, với gần 20% tiến sĩ.
Đại tá, TS Trần Ngọc Hà, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Phòng không-Không quân. Ảnh: CÔNG NGỮ
Song song với xây dựng nguồn nhân lực, Viện Kỹ thuật PK-KQ chủ động đề xuất tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đo lường và thử nghiệm theo hướng hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng kỹ thuật để nâng cao chất lượng nghiên cứu cải tiến và thiết kế, chế thử vũ khí, trang bị kỹ thuật. Đồng thời, nhằm bắt kịp tốc độ phát triển của KHCN quân sự và thực hiện định hướng “tự chủ, hiện đại” trong NCKH, Viện đẩy mạnh hợp tác NCKH và chuyển giao công nghệ, tận dụng thế mạnh về cơ sở vật chất, trình độ KHCN của các đối tác.
Mặt khác, Viện tập trung xây dựng định hướng NCKH, xem đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, là cơ sở để công tác NCKH phát triển đúng hướng, đạt hiệu quả cao. Với hơn 30 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu về phương tiện bay không người lái (UAV), Viện đã làm chủ công nghệ, chế tạo những sản phẩm có cấu hình thiết kế phù hợp và độ tin cậy. Điển hình là loại UAV có thể tương thích với tổ hợp ngắm bắn và điều khiển hỏa lực của máy bay Su-30MK2, hay dòng UAV FPV ứng dụng AI và công nghệ xử lý tại biên (Edge AI).
Thiết bị kiểm tra các module khả trình tên lửa phòng không C125-2TM do Viện Kỹ thuật Phòng không-Không quân nghiên cứu, thiết kế, chế tạo. Ảnh: CÔNG NGỮ
Trong giai đoạn 2020-2025, Viện Kỹ thuật PK-KQ đã triển khai thực hiện 12 dự án, 82 đề tài và 8 nhiệm vụ KHCN các cấp, hơn 400 nhiệm vụ kỹ thuật được đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời trong tình hình mới. Viện đã hoàn thiện kế hoạch phát triển KHCN đến năm 2030 và những năm tiếp theo, với trọng tâm là nghiên cứu tính năng kỹ thuật, chiến thuật và thủ đoạn tiến công hỏa lực đường không của các loại UAV để thiết kế, chế tạo mục tiêu giả tương đương phục vụ huấn luyện, diễn tập; nghiên cứu làm chủ công nghệ chế tạo các chủng loại module, khối đơn và các hệ thống quan trọng nhằm chủ động về nguồn vật tư, tiến tới tự chủ về công tác bảo đảm kỹ thuật, hạn chế phụ thuộc nhập khẩu...