Tạo hành lang pháp lý thuận lợi
Khoa học và công nghệ giữ vai trò nền tảng, quyết định chất lượng tăng trưởng của ngành năng lượng trong bối cảnh chuyển dịch xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến không chỉ nâng cao hiệu suất, giảm tổn thất mà còn tối ưu chi phí, giảm phát thải, đáp ứng các cam kết phát triển bền vững. Đặc biệt, các giải pháp số hóa, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và lưu trữ năng lượng đang mở ra khả năng vận hành hệ thống linh hoạt, tích hợp hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo.
Tiến tới tự chủ sản xuất được phần lớn các thiết bị năng lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Do đó, nhiều cơ chế, chính sách thời gian qua đã đặt khoa học và công nghệ vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển năng lượng. Định hướng này không chỉ tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, mà còn khuyến khích hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng.
Đơn cử, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nêu rõ, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng; từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, công nghệ năng lượng nguyên tử, tiến tới tự chủ sản xuất được phần lớn các thiết bị năng lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu cả về công nghệ và thiết bị.
Đồng thời, chỉ rõ nhiệm vụ: Tập trung đầu tư cho nghiên cứu và phát triển với tỷ lệ tối thiểu 2% GDP ngành năng lượng. Tạo cơ chế thuận lợi, đủ mạnh, tự chủ cao để khuyến khích các doanh nghiệp năng lượng tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thành lập các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng; thu hút 60 - 80 dự án chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Có cơ chế cho phép các trung tâm đổi mới sáng tạo được huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân để đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, dự án đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng sạch. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số trong khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng năng lượng; nghiên cứu, phát triển công nghệ lưu trữ năng lượng. Phát triển hệ thống lưới điện thông minh, hệ thống quản lý năng lượng thông minh trong công nghiệp, giao thông và xây dựng.
Tại Quyết định số 893/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng yêu cầu, phát triển năng lượng bám sát xu thế phát triển của khoa học - công nghệ trên thế giới, nhất là năng lượng tái tạo, năng lượng mới, sản phẩm phi năng lượng, gắn với chuyển đổi mô hình kinh tế đất nước theo hướng tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.
Mục tiêu của quy hoạch đó là thực hiện thành công chuyển đổi năng lượng góp phần quan trọng đáp ứng mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Ngành năng lượng phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực, phù hợp với xu thế phát triển khoa học, công nghệ của thế giới.
Còn tại Quyết định số 2795/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ban hành Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 nêu định hướng đối với lĩnh vực công nghiệp năng lượng, năng lượng tái tạo: Nghiên cứu đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị về nguồn điện và lưới điện nhằm nâng cao hiệu suất, tiết kiệm năng lượng, giảm giá thành sản xuất - cung ứng điện và bảo vệ môi trường.
"Chìa khóa vàng” để phát triển
Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, muốn đi nhanh và đi xa, ngành năng lượng phải dựa vào bệ phóng khoa học, công nghệ.
TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
Phân tích vấn đề này, TS. Trần Văn Khải cho rằng, trước hết, khoa học và công nghệ là động lực để giải quyết các điểm nghẽn kỹ thuật hiện tại. Thực tế, công nghệ trong một số lĩnh vực năng lượng của ta còn lạc hậu, tỷ lệ nội địa hóa thiết bị quan trọng chưa cao. Nhiều máy móc cho các dự án điện gió, điện mặt trời phải nhập khẩu.
Do vậy, việc làm chủ và chuyển giao công nghệ tiên tiến sẽ giúp Việt Nam dần tự chủ chế tạo phần lớn thiết bị năng lượng, đúng như mục tiêu đến năm 2030 “nhiều vật tư, thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng được sản xuất trong nước”. Khi đó, chúng ta không chỉ giảm phụ thuộc nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ mà còn có thể hướng tới xuất khẩu công nghệ, thiết bị năng lượng "Made in Vietnam".
Thứ hai, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng để chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng bền vững. Muốn ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo (điện gió, mặt trời…), chúng ta phải có lưới điện thông minh và công nghệ lưu trữ năng lượng hiệu quả.
Nghị quyết 70-NQ/TW đặt mục tiêu hệ thống điện Việt Nam đạt độ tin cậy thuộc top 3 ASEAN vào năm 2030. Điều này đòi hỏi áp dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, tự động hóa trong vận hành lưới điện, ứng dụng các giải pháp như IoT, AI để quản lý tải và nguồn điện một cách tối ưu.
Chẳng hạn, công nghệ điều khiển thông minh sẽ cho phép tích hợp tỷ lệ cao năng lượng tái tạo mà vẫn đảm bảo ổn định (tiêu chí N-1, N-2 đối với hệ thống điện quan trọng). Bên cạnh đó, nghiên cứu phát triển công nghệ lưu trữ (pin battery, thủy điện tích năng) là quyết định để dự trữ điện năng lượng tái tạo, san bằng phụ tải. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết 70-NQ/TW giao (đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ lưu trữ năng lượng).
Thứ ba, vai trò của khoa học và công nghệ thể hiện rõ trong việc chuẩn bị cho những nguồn năng lượng mới có tính đột phá. Điện hạt nhân là ví dụ điển hình - để “phát triển điện hạt nhân” thành công, chúng ta cần làm chủ công nghệ năng lượng nguyên tử và đội ngũ chuyên gia hạt nhân trình độ cao.
Nghị quyết 70-NQ/TW đã đặt mục tiêu đào tạo tối thiểu 25.000 - 35.000 kỹ sư, chuyên gia năng lượng, đặc biệt ưu tiên lĩnh vực năng lượng hạt nhân. Đây là bước chuẩn bị nguồn nhân lực khoa học và công nghệ rất bài bản để khi điều kiện chín muồi, Việt Nam có thể tái khởi động các dự án nhà máy điện hạt nhân an toàn, tự tin.
Tương tự, những lĩnh vực như hydro xanh, điện gió ngoài khơi công suất lớn, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS)… đều cần đến nghiên cứu khoa học và tiếp thu công nghệ mới từ thế giới.
Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả, năng suất năng lượng. Ví dụ, các giải pháp số hóa giúp Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và ngành điện tối ưu vận hành, giảm tổn thất điện năng trên lưới, hay các ứng dụng công nghệ trong quản lý nhu cầu (DSM) sẽ giúp tiết kiệm 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng vào năm 2030 như mục tiêu đề ra.
Công nghệ cũng thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới trong năng lượng: Cho phép triển khai thị trường điện cạnh tranh minh bạch, giao dịch mua bán điện trực tiếp (DPPA) qua nền tảng số, hay phát triển các hệ thống phát điện phân tán (ví dụ điện mặt trời mái nhà thông minh) hòa lưới.
"Khoa học và công nghệ chính là “chìa khóa vàng” để phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng Việt Nam trong giai đoạn mới" - TS. Trần Văn Khải nhấn mạnh, đồng thời cho hay, với sự đầu tư đúng mức vào khoa học và công nghệ, Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến, tự tin làm chủ nguồn năng lượng mới và sạch.
TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhận định, khoa học - công nghệ chính là “đòn bẩy” để ngành năng lượng bứt phá. Nghị quyết 70-NQ/TW đã tạo hành lang để phát huy vai trò này, từ việc yêu cầu chi tối thiểu 2% GDP ngành năng lượng cho nghiên cứu phát triển (R&D), lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, thu hút 60 - 80 dự án chuyển giao công nghệ cao, cho đến xây dựng cơ chế liên kết viện trường - doanh nghiệp, thu hút chuyên gia quốc tế về làm việc.
Quỳnh Nga