GS.TS Bùi Hoài Sơn - Đại biểu Quốc hội khóa XV: Những người hùng thầm lặng biến khát vọng thành kết quả
Mỗi thành tựu của đất nước trong năm 2025 đều là kết quả tất yếu của rất nhiều yếu tố đan xen, hỗ trợ lẫn nhau. Đó là thể chế đúng đắn, con người chất lượng và sự đồng thuận xã hội. Trong đó, thể chế giữ vai trò dẫn dắt, còn con người là chủ thể sáng tạo và thực thi. Những kết quả nổi bật vừa qua cho thấy sự lãnh đạo sáng suốt, nhất quán của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị.
Những quyết sách lớn về sắp xếp đơn vị hành chính hay xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện thị trường hay tăng cường phân cấp, phân quyền chuyển đổi số, phát triển văn hóa, khoa học công nghệ không chỉ được ban hành, mà còn được triển khai một cách rất bài bản, rất kiên định. Khi đường ray đã đúng rồi, thì con tàu phát triển có thể chạy nhanh và an toàn hơn. Tuy nhiên, thể chế có tốt đến đâu mà không có con người tận tâm, tận lực, thì khó có thể thành công.
Tôi đã gặp rất nhiều cán bộ, công chức ở cơ sở ngày đêm bám địa bàn, giải quyết từng vụ việc cụ thể, hay những doanh nhân sẵn sàng chấp nhận rủi ro để mở ra không gian phát triển mới, những người lao động miệt mài trên công trường, hay những trí thức, văn nghệ sĩ lặng lẽ cống hiến, bồi đắp cho đời sống tinh thần của xã hội. Chính họ là những người hùng thầm lặng biến chủ trương thành hành động và biến khát vọng chung thành kết quả cụ thể.
Năm 2026 đang mở ra trước mắt chúng ta với dấu mốc rất đặc biệt, đó là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng nhất của đất nước, mà còn là thời khắc khởi đầu trong một hành trình phát triển mới, nơi tầm nhìn khát vọng và những quyết sách tiếp tục được xác lập, dẫn dắt dân tộc ta đi lên trong bối cảnh thế giới đầy biến động nhanh, biến động sâu và khó lường.
Cá nhân tôi đặt rất nhiều niềm tin vào giai đoạn mới này, bởi sau những trải nghiệm của năm 2025, năm của những cải cách mạnh mẽ về thể chế, về tổ chức, về quản trị quốc gia, thì chúng ta đã tích lũy được một nền tảng đủ vững để bước vào quỹ đạo phát triển cao hơn.
Tôi cũng tin rằng, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, cán bộ các cấp sẽ tiếp tục trở thành lực lượng tiên phong trong sự nghiệp kiến tạo phát triển. Khi thể chế tiếp tục được hoàn thiện, môi trường kinh doanh sáng tạo được cải thiện và các nguồn lực được phân bổ, minh bạch, hiệu quả hơn, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để kỳ vọng vào những bước đột phá mới, không chỉ về kinh tế tăng trưởng tốt, mà còn về chất lượng sống, về công bằng xã hội, về bản sắc và sức mạnh mềm quốc gia.
Dương An (ghi)
PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam: Kỳ vọng sức bật của “Phù Đổng”
Trong năm 2025, kinh tế Việt Nam đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về bộ máy, cơ chế, chính sách. Nhiều quyết sách được thực thi chỉ trong thời gian rất ngắn như sáp nhập, sắp xếp bộ máy, các dự án từng đình trệ nhiều năm cũng đã được giải phóng...
Đặc biệt, quan trọng nhất là chúng ta đã thực sự đặt khu vực tư nhân về đúng vị thế vốn có. Lần đầu tiên khu vực tư nhân được xác định là động lực tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Chính sự thay đổi này đã tạo nên điều phi thường, khơi dậy niềm tin vào tương lai. Từ Nghị quyết số 68-NQ/TW, khu vực tư nhân đã xoay chuyển toàn bộ nền kinh tế theo hướng phát triển tích cực.
Điểm nổi bật thứ hai là sự thay đổi trong cách hoạch định và thực thi chính sách. Nếu trước đây, nhiều nghị quyết đúng về định hướng nhưng thiếu hiệu quả trong triển khai, thì năm 2025 chứng kiến một cách tiếp cận mới mang tính hệ thống và đồng bộ. Các nghị quyết không còn tồn tại rời rạc, mà được thiết kế theo “bộ”, theo “khối”, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm tháo gỡ đồng thời nhiều điểm nghẽn lớn của nền kinh tế. Cách tiếp cận này giúp chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn và hình thành một khung phát triển có tính dẫn dắt rõ ràng.
Với tư duy hoạch định và thực thi chính sách như vậy, mô hình tăng trưởng đang bắt đầu có những chuyển đổi mạnh mẽ, mở ra cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam. Điều quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải đủ năng lực thực thi để chuyển hóa những ý tưởng này thành hiện thực.
Bước sang năm 2026, năm đầu của nhiệm kỳ mới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là thách thức rất lớn, song không phải là bất khả thi nếu chúng ta từ bỏ tư duy “chỉnh sửa, cơi nới” để thay đổi hoàn toàn mô hình phát triển.
Trong mô hình này, khu vực tư nhân phải là động lực tăng trưởng quan trọng nhất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên nền tảng cạnh tranh bình đẳng. Mô hình công nghiệp hóa phải chuyển từ gia công, lắp ráp sang công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đồng thời, hạ tầng phải đi trước, đồng bộ và đẳng cấp, bao gồm cả đường cao tốc, sân bay, năng lượng sạch…, chứ không phải đầu tư theo kiểu “bí đâu vá đấy”.
Yếu tố quan trọng nữa là phải hội nhập đẳng cấp cao, mời gọi các “đại bàng” công nghệ vào xây dựng hệ sinh thái, chứ không chỉ tận dụng lao động rẻ. Nhà nước cũng phải chuyển từ quản lý sang quản trị kiến tạo và đồng hành, thể chế hóa các nghị quyết để sớm đi và cuộc sống.
Với tinh thần của các Nghị quyết đã ban hành, tôi rất kỳ vọng vào một cuộc “giải nén” cho nền kinh tế. Chúng ta đã bị “trói” quá lâu bởi các điểm nghẽn thể chế. Khi giải nén được, đất nước sẽ có sức bật của một “Phù Đổng”, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên thịnh vượng.
Hoàng Yến (ghi)
GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân: Chính sách tiền tệ chuyển vai dẫn dắt phát triển bền vững
Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế khá tham vọng trong thập niên tới, với mong muốn đạt mức tăng trưởng cao, đồng thời đảm bảo tính bền vững về môi trường và chuyển đổi xanh. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, Chính phủ đã xác định mục tiêu tăng trưởng bình quân 7%/năm, phấn đấu đưa GDP bình quân đầu người lên khoảng 7.500 USD vào năm 2030 và mục tiêu điều chỉnh cao hơn gần đây có thể lên tới 8,5% năm 2025, hơn 10% trong các năm tiếp theo cho thấy khát vọng cao, đồng thời áp lực cũng rất lớn đối với bộ máy điều hành kinh tế, đặc biệt trong việc cân bằng giữa thúc đẩy tăng trưởng và giữ ổn định vĩ mô.
Một trong những động lực chính được xác định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao là chính sách tài khóa mở rộng, thông qua việc tăng mạnh chi đầu tư công và kích cầu từ ngân sách nhà nước. Khi đầu tư công chiếm vai trò lớn trong tổng cầu, chính sách tiền tệ buộc phải hỗ trợ thanh khoản và tín dụng để đảm bảo dòng vốn lưu thông suôn sẻ.
Trong bối cảnh đó, dư địa chính sách tiền tệ có thể đã bị thu hẹp, bởi nếu nới lỏng quá mức sẽ dẫn đến lạm phát, mất ổn định tỷ giá, bong bóng tài sản và rủi ro hệ thống ngân hàng. Thực tiễn trong giai đoạn 2020 - 2024 đã cho thấy nhiều thử thách đối với chính sách tiền tệ, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã dùng các công cụ lãi suất, tái cấp vốn, cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ nền kinh tế trong đại dịch, nhưng dư địa tiếp tục giảm khi áp lực nhập khẩu, đầu vào chi phí và biến động quốc tế gia tăng.
Do đó, trong giai đoạn 2025 - 2030, chính sách tiền tệ không thể chỉ vận hành theo phương thức nới lỏng, hỗ trợ tăng trưởng đơn thuần, mà cần đóng vai trò trung tâm trong cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định, đồng thời định hướng dòng vốn theo các mục tiêu phát triển bền vững.
Ánh Tuyết (ghi)
TS. Lê Thị Thùy Vân - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính): Tạo đà vững chắc cho tăng trưởng 2 con số
Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% so với năm trước, là mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2011 - 2025. Tốc độ tăng trưởng GDP diễn biến theo xu hướng quý sau cao hơn quý trước, cho thấy sự hồi phục bền vững từ sản xuất, tiêu dùng đến xuất khẩu, tạo đà vững chắc cho tăng trưởng bền vững ở mức 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra của nhiệm kỳ 2026 - 2030, bên cạnh việc thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng), cần khơi thông hiệu quả các động lực tăng trưởng mới (khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số; kinh tế xanh và năng lượng tái tạo, các mô hình kinh tế mới như kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc...).
Đồng thời, phát triển kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo, kiến tạo, tập trung vào hạ tầng chiến lược và khung khổ pháp lý minh bạch, trong khi kinh tế tư nhân là động lực sáng tạo, đầu tàu trong các ngành kinh tế số, công nghiệp chế biến, dịch vụ chất lượng cao; đồng thời thu hút có chọn lọc các dự án FDI gắn với chuyển giao công nghệ.
Ưu tiên nguồn lực bố trí cho các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của Nhà nước, các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình có tính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội liên vùng…
Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư và kinh doanh theo hướng minh bạch, công bằng nhằm giải phóng mọi nguồn lực sản xuất. Cùng với đó, khai thác hiệu quả không gian tăng trưởng mới từ các vùng, địa phương và các cực tăng trưởng; phát huy vai trò đầu tàu của các vùng động lực. Phát huy hiệu quả vai trò động lực của Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng và các khu thương mại tự do thế hệ mới tại một số địa phương tiềm năng.
Văn Nam (ghi)
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh: Điều hành thăng bằng, hấp thụ cú sốc để hỗ trợ tăng trưởng
Trong bối cảnh năm 2025 phải cùng lúc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, chịu sức ép tỷ giá và vẫn phải giữ ổn định mặt bằng lãi suất, có thể nói, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng khá linh hoạt và thận trọng, phù hợp với đặc thù của một nền kinh tế mở và đang phát triển như Việt Nam. Nếu nhìn từ góc độ lý thuyết “bộ ba bất khả thi”, Ngân hàng Nhà nước đã chấp nhận một cách tiếp cận trung dung: không cố neo cứng tỷ giá, không nới lỏng tiền tệ một cách cực đoan để chạy theo tăng trưởng, mà ưu tiên ổn định hệ thống và quản trị kỳ vọng thị trường.
Trong thực tiễn, sự phối hợp giữa điều tiết tín dụng, điều hành tỷ giá và kiểm soát lãi suất thể hiện khá rõ. Về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước chủ động nới định hướng tăng trưởng để hỗ trợ phục hồi và đạt mục tiêu GDP trên 8%, nhưng vẫn giữ vai trò “người gác cổng” thông qua phân bổ room tín dụng và giám sát dòng vốn, tránh nới lỏng đại trà gây rủi ro hệ thống. Ở chiều lãi suất, dù thanh khoản chịu áp lực theo chu kỳ và do nhu cầu vốn tăng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng linh hoạt các công cụ thị trường mở để bơm - hút vốn, qua đó, hạn chế biến động quá mạnh của lãi suất, đồng thời chấp nhận điều chỉnh lãi suất ngắn hạn ở mức hợp lý nhằm giữ kỷ luật thị trường tiền tệ. Với tỷ giá, cách điều hành theo hướng quản trị biến động, kết hợp công bố tỷ giá trung tâm, can thiệp khi cần thiết và sử dụng các công cụ phái sinh như hoán đổi ngoại tệ, đã giúp giảm tâm lý đầu cơ và tránh những cú sốc lớn đối với đồng tiền.
Nhìn tổng thể, hiệu quả điều hành năm 2025 không nằm ở việc giữ một biến số cố định, mà ở khả năng cân bằng và hấp thụ cú sốc, nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng không làm mất ổn định vĩ mô, ổn định tỷ giá nhưng không bóp nghẹt thanh khoản và duy trì lãi suất ở mức chấp nhận được trong khi vẫn đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Đây là một cách điều hành “chia tải” hợp lý trong bối cảnh nhiều ràng buộc, dù áp lực về chất lượng tín dụng và chi phí vốn vẫn là thách thức cần tiếp tục theo dõi trong giai đoạn tới.
Năm 2026, xu hướng lãi suất cho vay nếu xảy ra sẽ khiến mục tiêu tăng trưởng kinh tế đối mặt với lực cản lớn hơn và buộc ngành ngân hàng phải vận hành trong trạng thái “biên hẹp - rủi ro cao”. Điều này hàm ý rằng chính sách vĩ mô cần chuyển trọng tâm từ việc duy trì lãi suất thấp bằng mọi giá, sang việc cải thiện chất lượng tăng trưởng, đa dạng hóa kênh dẫn vốn và giảm áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng, qua đó hạn chế những "vòng xoáy" bất lợi giữa lãi suất - tín dụng - rủi ro tài chính trong trung hạn.
Tú Anh (ghi)
Chuyên gia kinh tế - TS. Nguyễn Văn Hiến: Chuyển mạnh từ “tăng trưởng nhanh” sang tăng trưởng chất lượng
Để hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong nhiệm kỳ 2026 - 2030, Việt Nam cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp then chốt, mang tính nền tảng và dài hạn: Thứ nhất, ưu tiên nâng cao chất lượng thể chế và môi trường đầu tư, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Chuyển mạnh từ “thu hút đầu tư bằng ưu đãi” sang thu hút đầu tư bằng chất lượng thể chế, tính minh bạch và ổn định chính sách. Đây là yếu tố được Ngân hàng Thế giới đánh giá là quyết định năng lực tăng trưởng dài hạn của các nền kinh tế đang phát triển.
Thứ hai, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công. Đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động, coi đây là động lực tăng trưởng chính giai đoạn 2026 - 2030. Phấn đấu tốc độ tăng năng suất lao động trên 6,5 - 7%/năm, cao hơn giai đoạn trước.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó, cần tập trung đào tạo đủ nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực: công nghệ số, AI, logistics, công nghiệp xanh, tài chính - ngân hàng hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và doanh nghiệp, hạn chế tình trạng “thừa bằng cấp - thiếu kỹ năng”.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và kinh tế xanh. Kinh tế số và kinh tế xanh cần được xác định là trụ cột tăng trưởng mới, không chỉ là xu hướng. Hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp cận vốn, công nghệ và tiêu chuẩn xanh carbon để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ năm, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trước những biến động khó lường của kinh tế thế giới, việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô vẫn phải là yếu tố then chốt để đảm bảo cho sự phát triển.
Cùng với đó, điều hành linh hoạt chính sách tài khóa và tiền tệ để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát. Duy trì niềm tin thị trường, ổn định tỷ giá, kiểm soát nợ công trong ngưỡng an toàn, đây là “điều kiện cần” để các giải pháp khác phát huy hiệu quả.
Như vậy, muốn hoàn thành mục tiêu nhiệm kỳ 2026 - 2030, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy “tăng trưởng nhanh” sang tăng trưởng chất lượng, bền vững và có sức chống chịu cao, trong đó thể chế, con người và đổi mới sáng tạo là ba trụ cột quyết định.
Đức Việt (ghi)
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc, bứt phá. Ảnh: Hà Minh
Hoàng Yến - Ánh Tuyết - Đức Việt