Đây là bước đi nền tảng để định danh, bảo hộ sầu riêng và từng bước nâng tầm giá trị sản phẩm theo hướng bài bản, có thương hiệu.
Tuy nhiên, khoảng cách từ một “tấm hộ chiếu” pháp lý đến năng lực cạnh tranh trên thị trường vẫn là một hành trình dài, đặt ra yêu cầu tái tổ chức toàn bộ chuỗi sản xuất, tiêu thụ theo hướng đồng bộ và kiểm soát chất lượng.
Từ “cây làm giàu” đến định hình ngành hàng
Toàn tỉnh hiện có hơn 9.200 ha, sản lượng gần 58.000 tấn; đã được cấp 67 mã số vùng trồng xuất khẩu với hơn 1.539 ha và 6 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu với tổng công suất khoảng 420 tấn quả tươi/ngày. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thị trường Trung Quốc dưới dạng quả tươi và múi cấp đông.
Trong 4 năm gần đây, diện tích sầu riêng của Gia Lai tăng nhanh không chỉ nhờ nông dân chuyển đổi mà còn có sự tham gia của doanh nghiệp (DN) lớn với quy trình quản trị hiện đại.
Cũng theo đó chuỗi giá trị hình thành. Nhiều DN, HTX đã đầu tư hệ thống kho lạnh, sơ chế, đóng gói ngay tại vùng nguyên liệu, giảm phụ thuộc thương lái và hạn chế rủi ro “được mùa mất giá”.
Diện tích sầu riêng tại Gia Lai đạt khoảng 9.200 ha. Ảnh: R’Piên
Điển hình như Công ty TNHH một thành viên Cây ăn trái Thagrico Cao Nguyên (phường Pleiku) với gần 1.000 ha sầu riêng tại hai xã Ia Tôr, Ia Púch (đạt chứng nhận tiêu chuẩn Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu - GlobalGAP).
Vụ năm ngoái, 100 ha đầu tiên bước vào thời kỳ kinh doanh với sản lượng đạt khoảng 1.000 tấn. Năm nay, dự kiến sản lượng đạt khoảng 3.000 tấn, đến năm 2027 đạt 5.000-6.000 tấn và đến năm 2030 sẽ cho sản lượng khoảng 10.000 tấn. Công ty đặt mục tiêu khoảng 70% sản lượng xuất khẩu, 30% tiêu thụ trong nước.
Hiệu quả kinh tế của sầu riêng đã rõ nét. Tại xã Kon Gang, nhiều hộ vươn lên khá giả nhờ chuyển đổi cây trồng sang trồng sầu riêng; riêng làng Ktu có đến 70% hộ đạt mức thu nhập 300-500 triệu đồng/năm, nhiều hộ đạt 1-4 tỷ đồng/năm.
Anh Plói (làng Ktu) có hơn 1 ha sầu riêng trồng xen, thu khoảng 1 tỷ đồng/năm. Anh cho hay: Tôi học hỏi quy trình sản xuất từ những người đi trước, cũng như lên mạng tìm hiểu kỹ thuật để sản xuất theo hướng hữu cơ, từng bước giảm dần phân hóa học. Với giá bán 50.000-60.000 đồng/kg thì đã có lãi lớn hơn rất nhiều cây trồng khác.
Cùng với mở rộng diện tích, tỉnh đang tích cực quy hoạch vùng chuyên canh sầu riêng, gắn xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; thúc đẩy liên kết nông dân theo tổ nhóm, HTX để làm cầu nối kỹ thuật và quản lý quy trình sản xuất; HTX liên kết với DN đảm bảo bao tiêu sản phẩm và mở rộng thị trường. Hiện, khoảng 4.190 ha sầu riêng đã được liên kết sản xuất, tiêu thụ từ 14 DN, 20 HTX, nông hội và trang trại.
Dù vậy, sự phát triển nhanh cũng bộc lộ hạn chế như sản xuất còn phân tán, trình độ canh tác không đồng đều. Như nhận định của ông Vũ Cao Luyện - Chi hội trưởng Chi hội Nông dân thôn Phú Vinh (xã Ia Tôr), có hộ đạt năng suất cao, nhưng cũng có hộ hiệu quả thấp do thiếu kỹ thuật. Việc tổ chức lại sản xuất theo nhóm hộ, HTX và chuẩn hóa quy trình trở thành yêu cầu cấp thiết.
Bài toán nhãn hiệu và chất lượng
Với thị trường ngày càng cạnh tranh, việc xây dựng nhãn hiệu chứng nhận “Sầu riêng Gia Lai” mang ý nghĩa không chỉ pháp lý mà còn chiến lược. Theo bản đồ khu vực địa lý đã được UBND tỉnh xác nhận, các vùng trồng tập trung chủ yếu ở phía Tây tỉnh với điều kiện tự nhiên thuận lợi để hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn.
Một nhãn hiệu chứng nhận, nếu được vận hành đúng nghĩa, sẽ đóng vai trò như “tấm hộ chiếu” giúp sản phẩm thâm nhập sâu hơn vào thị trường, đồng thời tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc “có tên gọi”, mà ở khả năng đảm bảo chất lượng đồng đều, truy xuất nguồn gốc và duy trì uy tín thương hiệu.
Thiếu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đang làm suy giảm giá trị gia tăng của sản phẩm. Nông dân chủ yếu bán qua thương lái hoặc DN thu mua theo thời điểm, thiếu hợp đồng dài hạn; trong khi DN xuất khẩu lại thiếu nguồn hàng ổn định và đồng nhất. Hệ quả là giá trị sản phẩm chưa tương xứng với chất lượng.
Câu chuyện của ông Trần Công Tự (thôn 2 Tân Bình, xã Đak Đoa) là một ví dụ. Ông Tự cho biết: Vụ sầu riêng năm ngoái, có 1 DN đưa tem nhãn, hứa bao tiêu với giá cao nhưng không có cam kết cụ thể, đến chính vụ không quay lại mua hàng khiến nông dân rơi vào thế bị động.
Vườn sầu riêng trổ hoa dày đặc của gia đình ông Trần Công Tự (thôn 2 Tân Bình, xã Đak Đoa). Ảnh: V.T
Ông Nguyễn Văn Lập - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Minh Phát Farms (xã Chư Prông) cho rằng, nhãn hiệu chứng nhận được cấp sẽ là nền tảng để định hình thương hiệu nông sản địa phương, tạo động lực để người sản xuất tuân thủ quy chuẩn.
Tại nhiều địa phương, khi sản phẩm sầu riêng xây dựng được thương hiệu thì giá trị nâng lên rất nhiều, trong khi chất lượng sầu riêng Gia Lai không thua kém gì nhưng lại bị thị trường định giá thấp hơn.
“Qua việc liên kết với DN xuất khẩu, tôi nhận thấy vùng đất Gia Lai phát triển sầu riêng sau nhiều nơi, nhưng đây lại là yếu tố có lợi về việc chọn giống mới, ứng dụng KHKT để nâng năng suất, chất lượng sản phẩm” - ông Lập chia sẻ.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đoàn Ngọc Có, sầu riêng đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đặc biệt từ khi được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc.
Cơ hội mở ra rõ ràng, nhưng đi kèm là những thách thức về “hàng rào” kỹ thuật trong thương mại từ các nước như truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tiêu chuẩn sau thu hoạch…
Do đó, ngành Nông nghiệp tỉnh đang tích cực tuyên truyền, hướng dẫn hộ sản xuất, HTX, DN trên địa bàn nắm bắt các tiêu chuẩn sản xuất, xây dựng mã số vùng trồng, đồng thời thúc đẩy mối liên kết sản xuất, tiêu thụ… mở ra phân khúc thị trường mới.
VŨ THẢO