Minh họa: BH
Tôi nhớ ngày xưa, cứ sang đầu tháng Chạp là ông nội đã bắt đầu phơi vỏ quýt. Những mảnh vỏ vàng ươm được xé nhỏ, hong trên nia tre đặt ngoài hiên. Ông bảo để dành làm gia vị gói giò. Giò bò nhà tôi có nhiều thứ gia vị, nhưng đặc trưng nhất vẫn là mùi thơm của vỏ quýt khô rang giòn, giã nhỏ. Thứ hương thơm ấy quện với thịt bò hầm mềm, gói chặt trong lá chuối, thêm chút cay nồng của tiêu bắc, chút thơm ngọt của thảo quả, thêm độ giòn sần sật của nấm tai mèo... Tất cả hòa thành một thứ mùi vị rất riêng. Giò chấm với nước mắm cốt vắt chút chanh, thêm vài lát ớt đỏ, ăn cùng dưa hành muối.
Gần tết cũng là mùa thi học kỳ của lũ học trò. Bài vở ngập đầu, mà trong bụng thì cứ thấp thỏm mong ngóng. Thi xong, đã vui như tết. Ai nấy đều hớn hở vì vừa trút được gánh nặng, lại sắp bước vào kỳ nghỉ dài với biết bao điều hấp dẫn: áo mới, mừng tuổi, bánh kẹo, và những ngày rong chơi không cần nghĩ đến bài tập. Bố mẹ còn hay hứa: đứa nào thi tốt sẽ được mừng tuổi nhiều hơn.
Không khí tết thật sự rõ rệt từ ngày 23 tháng Chạp, ngày cúng tiễn ông Táo chầu trời. Mẹ thường dậy sớm nấu bánh trôi nước, rồi ra chợ mua mấy con cá chép vàng về để sau khi cúng xong là mang đi thả.
Cá chép theo làn nước mà “đưa” ông Táo về trời để tâu với Ngọc Hoàng chuyện tốt xấu của trần gian và mang về cho mỗi nhà một niềm cầu mong may mắn. Ở quê tôi, chiều 23 đông như hội. Xe máy, ô tô đậu kín con đường dẫn ra bờ sông. Người quen kẻ lạ gặp nhau đều vui vẻ chào hỏi, cười nói rộn ràng. Tôi thường về quê sớm, chở theo con gái nhỏ, để con biết phong tục quê mình. Vui thì có vui, nhưng đâu đó vẫn man mác: thêm một năm nữa sắp qua. Thời gian trôi đi rõ rệt đến vậy. Trẻ con lớn lên từng ngày, còn ông bà, cha mẹ thì lặng lẽ già thêm.
Từ khoảng 25 đến tận chiều 29 Tết, chợ lúc nào cũng đông nghịt. Ông nội lại bận rộn với những việc quen thuộc: mua ống giang về chẻ lạt, chuẩn bị lá dong, vo gạo nếp, đãi đậu xanh. Ông còn tự tay đóng một cái khuôn gỗ nhỏ để gói bánh chưng cho thật vuông. Gạo nếp được ngâm từ trước, xóc thêm chút muối, trộn nước lá cơm nếp cho xanh và thơm. Đậu xanh đồ chín, giã nhuyễn, vo thành từng nắm làm nhân cùng thịt ba chỉ. Thịt ướp hành khô, nước mắm, hạt tiêu cho dậy mùi. Từng lớp gạo, lớp đậu, lớp thịt được xếp cẩn thận. Bánh phải gói chắc tay, vuông vức. Luộc xong, bánh còn được ép dưới tấm ván nặng để ráo nước.
Nhớ lại, từ khi còn bé tôi đã lăng xăng chạy quanh chiếu, nhìn ông làm rồi bắt chước gói theo. Năm nào cũng tự gói cho mình một chiếc bánh bé xíu. Chiếc bánh ấy thường được vớt sớm vừa để “thử vị” cả nồi bánh, vừa là phần thưởng nho nhỏ cho đứa trẻ háo hức.
Đêm nấu bánh chưng là đêm hội thực sự. Trong cái lạnh tê tái của cuối năm, cả nhà quây quần bên bếp lửa. Người thêm củi, người châm nước, người chuyện trò râm ran. Lũ trẻ không thể quên việc vùi khoai lang vào tro than để nướng. Khoai chín thơm nức, bóc ra ăn nóng hổi, tay lấm lem mà miệng thì cười rạng rỡ. Nhà đông người, ăn gì cũng thấy ngon. Mà thật ra, chỉ cần được ngồi bên nhau, cạnh nồi bánh chưng nghi ngút khói, đã đủ vui và hạnh phúc.
Tháng Chạp năm nào cũng đến trong niềm háo hức như thế. Mỗi năm mỗi khác, mỗi thời một thay đổi, nhưng nhắc lại chuyện xưa lúc nào cũng hào hứng. Bởi tiếng pháo ngày nào, miếng giò bò gia truyền và những đêm thức trông nồi bánh chưng vẫn khiến tôi nôn nao đếm từng ngày chờ tết.
Dù đã trưởng thành, đã là cha của những đứa con nhỏ, tôi mới hiểu cảm giác của bố mẹ năm xưa chỉ mong lo cho con một cái tết đủ đầy. Cái lo bây giờ không còn là thiếu ăn, thiếu mặc, mà là sợ con trẻ không còn cảm nhận được cái náo nức rất riêng của tháng Chạp, không còn ngửi thấy hương vị bánh chưng và không còn há miệng nghe hết chuyện này sang chuyện khác của người lớn và không còn chờ tết để có được biết bao niềm vui.
Tản văn của Lê Ngọc Sơn