Nền đối ngoại toàn diện trong kỷ nguyên mới

Nền đối ngoại toàn diện trong kỷ nguyên mới
4 giờ trướcBài gốc
Thưa Tiến sĩ Nguyễn Hùng Sơn, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã trao cho đối ngoại một sứ mệnh mới – nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Theo đó, đối ngoại phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tiến sĩ có thể phân tích cụ thể hơn những nội dung này để thấy rõ hơn nhiệm vụ cốt lõi của đối ngoại Việt Nam trong bối cảnh mới?
Trước hết, có thể nói, định hướng mà Đại hội Đảng lần thứ XIV đã chỉ ra cho công tác đối ngoại nêu rất rõ sứ mệnh của đối ngoại trong kỷ nguyên mới, trong giai đoạn phát triển mới của dân tộc. Trong đó, nhiệm vụ của đối ngoại trước hết là phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là kim chỉ nam và cũng là nhiệm vụ cao nhất của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, đối ngoại phải phục vụ lợi ích của người dân. Đây là thông điệp, là nhiệm vụ đã được nhiều kỳ Đại hội nêu rất rõ.
Thứ ba, một điểm mới và là nét rất đậm trong định hướng đường lối đối ngoại của Đại hội XIV, đó là đối ngoại phải đóng góp có trách nhiệm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Đây chính là sự toàn diện của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Việc phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, phục vụ lợi ích của người dân và đóng góp có trách nhiệm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế phải dựa trên những giá trị và lợi ích căn bản, nền tảng, đó là hòa bình, độc lập và tự chủ.
Thêm nữa, một nét mới của Đại hội XIV là nhấn mạnh sự tự tin, tự cường và đặc biệt là tự chủ chiến lược.
Tôi cho rằng những định hướng khái quát đó đã nêu rõ sứ mệnh của đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đồng thời xác định nền tảng mà đối ngoại phải giữ vững và bảo đảm để triển khai nhiệm vụ của mình.
Theo Tiến sĩ, “tự chủ chiến lược”, “tự cường” trong một thế giới biến chuyển khôn lường như hiện nay có thuận lợi và thách thức ra sao?
Tư duy về tự chủ chiến lược và tự cường là sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn mới của thế giới. Trong đó, chúng ta xác định thế giới đang ở giai đoạn thay đổi cục diện và trật tự. Khoảng thời gian 10 năm tới, như các lãnh đạo thường đề cập, sẽ là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn quá độ. Trong giai đoạn đó, Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của thế giới, đã hội nhập toàn diện và đầy đủ. Vì vậy, chúng ta hình thành tư duy mới: Mặc dù hội nhập, có sự đan xen lợi ích với thế giới, nhưng vẫn phải bảo đảm tự chủ chiến lược, đặc biệt là tự cường.
Tự chủ chiến lược là việc chúng ta có quyền tự chủ trong việc đưa ra các quyết sách chiến lược phục vụ lợi ích quốc gia. Đồng thời, chúng ta cũng phải có tự cường. Tự cường ở đây là vẫn duy trì quan hệ, hội nhập sâu rộng, toàn diện với thế giới, nhưng phải có các biện pháp để hạn chế tác động của những biến động khó lường đối với lợi ích quốc gia. Vì vậy, cần xây dựng năng lực tự cường của đất nước.
Thuận lợi của Việt Nam trong việc bảo đảm tự chủ chiến lược và tự cường chính là thế và lực sau 40 năm đổi mới. Chúng ta đã tích lũy được tiềm lực quốc gia trên nhiều phương diện: quốc phòng - an ninh, kinh tế, ngoại giao. Những yếu tố này tạo cơ sở để chúng ta tự tin bảo đảm tự chủ chiến lược. Đồng thời, vị thế quốc tế cũng là điều kiện thuận lợi để củng cố tự cường và tự chủ chiến lược.
Tuy nhiên, thách thức là thế giới đang biến động rất nhanh, khó lường, đặc biệt từ đầu năm 2026 đến nay, và Việt Nam cũng chịu tác động từ những biến động đó. Đây là những thách thức cần vượt qua.
Để ứng phó, theo tôi, có ba yếu tố quan trọng. Một là, cần nâng cao năng lực dự báo, đặc biệt là dự báo chiến lược về những thay đổi và tác động từ thế giới. Hai là, cần đa dạng hóa quan hệ đối ngoại để không bị lệ thuộc vào bất kỳ đối tác nào, luôn duy trì nhiều lựa chọn trong quan hệ quốc tế. Ba là, tiếp tục củng cố tiềm lực trên nhiều phương diện: kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, pháp lý, hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động của kinh tế và chính trị toàn cầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng”. Dựa trên “cơ đồ” đất nước có được trong 80 năm xây dựng và phát triển, theo Tiến sĩ, với thế và lực mới, Việt Nam có thể làm được những gì hơn nữa cho các vấn đề chung cùng trăn trở hiện nay?
Tại Đại hội Đảng lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh nền đối ngoại của Việt Nam hiện nay không chỉ phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc mà còn phải đóng góp cho nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại. Đây là nhận định, phương hướng và đường lối chỉ đạo mới, cụ thể, đồng thời phù hợp với sứ mệnh của đối ngoại trong giai đoạn mới. Điều đó cũng đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta tiếp nhận từ thế giới thì cũng phải đóng góp cho thế giới.
Về đóng góp cho nền chính trị thế giới, Việt Nam có thể làm được nhiều điều. Với tiềm lực và vị thế hiện nay, cộng đồng quốc tế kỳ vọng Việt Nam đóng góp vào các khát vọng chung về hòa bình, một môi trường an ninh được bảo đảm cho tất cả các quốc gia và mọi người dân. Việt Nam có thể đóng góp tiếng nói để bảo vệ độc lập của các quốc gia, bảo vệ môi trường an ninh quốc tế, bảo vệ trật tự thế giới dựa trên các chuẩn mực chung đã được thừa nhận như Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đây là những đóng góp cơ bản mà Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện đối với nền chính trị toàn cầu.
Đối với nền kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam không còn là một nền kinh tế nhỏ mà đang hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển trong khoảng 20 năm tới. Vì vậy, Việt Nam có thể đóng góp ngày càng nhiều cho kinh tế thế giới. Ở mức tối thiểu, Việt Nam đã được thừa nhận là quốc gia có đóng góp cho an ninh lương thực toàn cầu. Bên cạnh đó, với tay nghề, năng suất và sự sáng tạo của người Việt Nam, chúng ta có thể cung cấp nhiều sản phẩm mang dấu ấn Việt Nam, góp phần vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đây cũng là những điều Việt Nam đã và đang thực hiện.
Về đóng góp cho nền văn minh nhân loại, đây là một khái niệm rộng, nhưng Việt Nam có thể tham gia bằng nhiều cách. Chúng ta có thể đóng góp những giá trị của nền văn minh và văn hóa Việt Nam, qua đó làm phong phú thêm nền văn minh thế giới, đồng thời góp phần vào sự phát triển của cộng đồng quốc tế trên nhiều phương diện.
Có thể thấy, có nhiều lĩnh vực mà Việt Nam hoàn toàn có thể đóng góp, qua đó nâng cao vị thế và vai trò trong cộng đồng quốc tế.
Ngay từ đầu năm 2026 đến nay, bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều biến số. Tiến sĩ đánh giá như thế nào về cách tiếp cận của đối ngoại Việt Nam?
Quan sát các hoạt động đối ngoại, đặc biệt là đối ngoại cấp cao diễn ra liên tục, sôi động của Đảng và Nhà nước từ đầu năm 2026 đến nay trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, tôi có ba từ để mô tả: Chủ động, tự tin và linh hoạt.
Trước hết là chủ động. Chúng ta đã rất chủ động trong việc lựa chọn đối tác, định hướng quan hệ, cũng như nội dung tham gia các hoạt động đối ngoại, phù hợp với sự biến đổi nhanh của tình hình.
Hai là sự tự tin. Trong bối cảnh thế giới biến động khó lường, môi trường quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhiều quốc gia có xu hướng thận trọng, thậm chí dè dặt khi tham gia các sáng kiến hoặc bày tỏ quan điểm về các vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, Việt Nam không dè dặt mà tham gia với sự tự tin, kể cả đối với những vấn đề khó khăn, phức tạp, đều có quan điểm và chính kiến rõ ràng để đóng góp vào công việc chung của thế giới.
Ba là sự linh hoạt. Có thể thấy rõ sự linh hoạt trong các quyết sách và quá trình ra quyết định đối ngoại. Điển hình là “ngoại giao năng lượng”. Khi tình hình thế giới biến động tác động đến an ninh năng lượng, Việt Nam đã kịp thời triển khai các biện pháp ứng phó, chủ động mở rộng và đa dạng hóa đối tác, nguồn cung năng lượng, đồng thời điều chỉnh chính sách để thích ứng với tình hình.
Điều đó cho thấy sự chủ động, tự tin, linh hoạt của Việt Nam trong ứng xử với môi trường quốc tế biến động. Đây cũng là những điểm nổi bật trong cách tiếp cận đối ngoại của Việt Nam thời gian qua.
Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!
Phương Anh
Nguồn TG&VN : https://baoquocte.vn/nen-doi-ngoai-toan-dien-trong-ky-nguyen-moi-384141.html