Dự thảo đưa ra nhiều đề xuất đáng chú ý nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng theo hướng minh bạch, phù hợp với tình hình mới, trong đó có việc bỏ quy định coi hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Đề xuất bỏ toàn bộ giấy phép con đối với vàng trang sức, mỹ nghệ
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của dự thảo là sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 Nghị định 24 theo hướng phân định rõ cơ chế quản lý giữa vàng miếng và vàng trang sức, mỹ nghệ.
Theo đó, hoạt động sản xuất vàng miếng, kinh doanh mua bán vàng miếng vẫn là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được NHNN cấp giấy phép.
Trong khi đó, dự thảo quy định hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ không còn là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động này phải tuân thủ các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn, đo lường; nhãn hàng hóa; niêm yết giá; hóa đơn, chứng từ; thuế; phòng cháy chữa cháy; bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phòng, chống rửa tiền và các quy định pháp luật có liên quan.
Nếu được thông qua, từ ngày 1.7.2026, Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ do NHNN cấp trước đó sẽ không còn là điều kiện để tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Đồng thời, các hồ sơ đề nghị cấp mới, sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đã nộp nhưng chưa được giải quyết cũng sẽ chấm dứt việc xem xét theo quy định chuyển tiếp của dự thảo.
Hiện nay, theo Nghị định 24, hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp muốn hoạt động phải được NHNN cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và đáp ứng các điều kiện về đăng ký kinh doanh, địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sản xuất.
Cùng với việc bỏ điều kiện kinh doanh, dự thảo cũng bãi bỏ nhiều quy định liên quan đến điều kiện sản xuất, kinh doanh và trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực vàng trang sức, mỹ nghệ; đồng thời loại bỏ nội dung thanh tra hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ khỏi phạm vi thanh tra, kiểm tra của NHNN.
Mở rộng cơ chế nhập khẩu vàng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu
Dự thảo sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 theo hướng tạo điều kiện cho hoạt động gia công và xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ.
Theo đó, doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ và có hợp đồng gia công với nước ngoài được NHNN xem xét cấp giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm khi nhu cầu nhập khẩu phù hợp với hợp đồng gia công.
Vàng nguyên liệu tạm nhập chỉ được sử dụng để thực hiện hợp đồng gia công và tái xuất sản phẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hằng năm NHNN xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu căn cứ vào năng lực sản xuất, tình hình thực hiện hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ, báo cáo xuất khẩu của năm trước và nhu cầu nhập khẩu phù hợp với hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu.
Dự thảo quy định rõ vàng nguyên liệu nhập khẩu chỉ được sử dụng để sản xuất, gia công sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ xuất khẩu theo hợp đồng làm căn cứ cấp phép; không được bán, chuyển giao hoặc sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước, trừ trường hợp được NHNN chấp thuận.
Một số loại vàng được xuất nhập khẩu theo quy định hải quan và chuyên ngành
Theo dự thảo, việc xuất khẩu, nhập khẩu một số loại vàng sẽ được thực hiện theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, pháp luật về hải quan và các quy định chuyên ngành có liên quan.
Các loại vàng này gồm:
- Vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng, dây, ống và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm.
- Vàng sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị y tế và dụng cụ y tế.
Bổ sung quy định thanh toán không dùng tiền mặt với giao dịch vàng từ 20 triệu đồng
Đối với hoạt động kinh doanh vàng, dự thảo bổ sung quy định mới về phương thức thanh toán.
Theo đó, việc thanh toán mua bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật về thanh toán.
Dự thảo cũng quy định việc sử dụng thẻ tín dụng hoặc các phương tiện, hình thức thanh toán có nguồn tiền từ hoạt động cấp tín dụng để thanh toán giao dịch mua vàng miếng phải tuân thủ quy định của pháp luật về hoạt động cấp tín dụng.
Trong khi đề xuất "cởi trói" đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, dự thảo vẫn duy trì cơ chế quản lý chặt đối với vàng miếng.
Theo đó, hoạt động sản xuất vàng miếng và kinh doanh mua bán vàng miếng tiếp tục là hoạt động kinh doanh có điều kiện, phải được NHNN cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng hoặc Giấy phép kinh doanh mua bán vàng miếng.
Hoạt động mua bán vàng nguyên liệu của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại sản xuất vàng miếng được thực hiện theo các quy định của nghị định.
Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống dữ liệu kết nối với NHNN
Dự thảo cũng bổ sung trách nhiệm mới đối với các doanh nghiệp, ngân hàng được cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng.
Các đơn vị này phải xây dựng hệ thống thông tin để xử lý, lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu về xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, sử dụng và tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu; dữ liệu giao dịch mua bán vàng nguyên liệu; đồng thời thực hiện kết nối, cung cấp thông tin cho NHNN.
Mở rộng phạm vi thanh tra, kiểm tra và chế độ báo cáo
Dự thảo sửa đổi khoản 5 Điều 16 theo hướng mở rộng phạm vi thanh tra, kiểm tra của NHNN đối với:
- Hoạt động sản xuất vàng miếng.
- Hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng.
- Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng và vàng nguyên liệu.
- Việc chấp hành các quy định về cấp phép, hạn mức, báo cáo, mua bán và sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu.
- Các hoạt động kinh doanh vàng thuộc phạm vi quản lý theo nghị định.
Về chế độ báo cáo, ngoài các nội dung hiện hành, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh vàng sẽ phải báo cáo thêm tình hình mua bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu; tình hình thực hiện hợp đồng gia công, hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ đối với trường hợp được cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu; đồng thời báo cáo tình hình bán vàng nguyên liệu nhập khẩu theo quy định.
ĐỨC AN