Thu hoạch chè shan tuyết Suối Giàng (tỉnh Yên Bái). Ảnh: H.A.
Việt Nam hiện là nước sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 thế giới. Chè Việt đã có mặt tại hơn 70 quốc gia vùng lãnh thổ. Việt Nam đã chế biến được khoảng 15 loại chè khác nhau, trong đó chè đen và chè xanh là hai sản phẩm chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu. Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu 145.000 tấn chè, với trị giá 256 triệu USD, tăng 25,4% về lượng và tăng 27% về trị giá so năm 2023.
Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho biết, xuất khẩu chè trong tháng 1/2025 đạt 9.700 tấn, trị giá 16,4 triệu USD, giảm 21,6% về lượng và giảm 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Giá chè xuất khẩu bình quân trong tháng 1 đạt 1.693,7 USD/tấn, tăng 0,2% so với tháng 1/2024. Pakistan vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất mặt hàng chè của Việt Nam, chiếm tới 35,1% tổng lượng và 38,7% tổng trị giá xuất khẩu chè của cả nước.
Ông Hoàng Vĩnh Long - Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam chia sẻ: Khí hậu cũng như thổ nhưỡng của Việt Nam rất phù hợp cho sự phát triển của cây chè. Hiện ở ta có nhiều vùng chè đặc sản, chất lượng cao như: Thái Nguyên, Sơn La, Lâm Đồng. Đặc biệt, Việt Nam còn có gần 20.000ha chè shan rừng. Nhiều vùng chè shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi cho chất lượng cao như Suối Giàng (Yên Bái), Hà Giang, Tà Xùa (Sơn La)... Điều này khiến chất lượng chè Việt không thua kém bất kỳ quốc gia sản xuất chè nào trên thế giới. Đặc biệt, chè xanh Việt Nam được rất nhiều khách hàng đánh giá cao như chè xanh Mộc Châu, Thái Nguyên, Suối Giàng, Hà Giang, Ôlong Lâm Đồng, các sản phẩm chè ướp hương sen, nhài...
Dù sở hữu nhiều tiềm năng, nhưng theo các chuyên gia, giá chè Việt Nam xuất khẩu ra thị trường quốc tế vẫn còn thấp. Theo ước tính, giá chè xuất khẩu bình quân của nước ta chỉ bằng 65% giá bình quân của các nước hàng đầu về xuất khẩu chè và chỉ bằng 55% giá chè xuất khẩu bình quân của Ấn Độ và Sri Lanka. Các sản phẩm nổi tiếng khi xuất khẩu ra nước ngoài đến tay người tiêu dùng phần lớn lại không mang thương hiệu của doanh nghiệp Việt. Nguyên nhân là do phần lớn chè vẫn xuất khẩu thô, chưa có thương hiệu mạnh, trong khi hoạt động quảng bá cho chè Việt Nam cũng còn rất hạn chế.
Giới chuyên gia trong ngành cho rằng, để nâng cao giá trị xuất khẩu, đưa sản phẩm chè Việt đến nhiều thị trường khó tính hơn, cần phải chú trọng nâng cao chất lượng, đầu tư vào chế biến sâu và đa dạng sản phẩm, xây dựng thương hiệu cho chè Việt.
Theo đó, giai đoạn từ nay đến năm 2030, ngành chè cần tập trung phát triển các mặt hàng chè mới có giá trị gia tăng cao, chế biến sâu, sản phẩm tinh chế cao cấp, được sử dụng trong các ngành thực phẩm và phi thực phẩm, dược phẩm hoặc mỹ phẩm; tiếp tục đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Trong đó, cần chú trọng bảo tồn, khai thác và phát triển các vùng chè shan tuyết phục vụ nguyên liệu cho sản xuất chè hữu cơ, chè đặc sản cũng như các sản phẩm chè chế biến có giá trị gia tăng cao và bảo vệ môi trường sinh thái, như: Vùng chè shan tuyết Hà Giang; vùng trồng chè shan tuyết Suối Giàng (Yên Bái); vùng chè shan tuyết Tà Xùa (Sơn La)...
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin, định hướng đến năm 2030, diện tích chè được chứng nhận sạch, an toàn (hữu cơ, GAP, VietGAP và tương đương) đạt hơn 70%; ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tưới nước, bón phân, thu hái, bảo quản, chế biến... Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cũng đề ra mục tiêu diện tích chè hữu cơ cả nước đến năm 2030 đạt khoảng 11.000ha, sản lượng đạt khoảng 70.000 tấn, tập trung tại các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái và Thái Nguyên. Phấn đấu đến năm 2030, diện tích chè đặc sản cả nước đạt khoảng 34,5 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 290.000 tấn.
NAM ANH