Từ những “xưởng quân giới trong rừng”
Lịch sử LLVT Quân khu 2 luôn gắn liền với những chặng đường đấu tranh oanh liệt của dân tộc trên địa bàn Tây Bắc và Việt Bắc. Trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành Quân giới, tiền thân của ngành Quân khí ngày nay, đã ra đời với muôn vàn thiếu thốn, gian khổ, nhưng cũng đầy ý chí sáng tạo và tinh thần tự lực, tự cường.
Những năm đầu kháng chiến, nguồn vũ khí vô cùng khan hiếm. Giữa núi rừng hiểm trở, cán bộ, chiến sĩ quân giới đã dựng nên những “xưởng quân giới trong rừng”, tận dụng mọi phương tiện, vật liệu để sản xuất, sửa chữa vũ khí phục vụ chiến đấu. Từ các xưởng cơ khí dã chiến đơn sơ, những người lính thợ ngày đêm miệt mài chế tạo súng kíp, lựu đạn, mìn gỗ; đồng thời sửa chữa, phục hồi vũ khí thu được của địch để trang bị cho bộ đội và dân quân du kích.
Đại tá Mai Văn Tốc (ngoài cùng bên trái), Phó chủ nhiệm Hậu cần-Kỹ thuật Quân khu 2 kiểm tra bảo quản, bảo dưỡng vũ khí tại các đơn vị thuộc Quân khu.
Không có máy móc hiện đại, không đủ vật tư kỹ thuật, nhưng bằng đôi bàn tay khéo léo và tinh thần quyết tâm, những người lính quân giới đã góp phần tạo nên nguồn hỏa lực quý giá cho chiến trường. Mỗi khẩu súng được sửa chữa thành công, mỗi viên đạn được bảo đảm an toàn đều chứa đựng mồ hôi, trí tuệ và cả sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ quân giới.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, vai trò của ngành Quân khí càng được khẳng định rõ nét. Trên những tuyến đường vận tải đạn dược xuyên rừng núi hiểm trở, cán bộ, chiến sĩ quân khí luôn bám sát trận địa, bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối cho từng chuyến hàng quân sự. Dưới mưa bom bão đạn, họ vẫn kiên cường giữ vững huyết mạch hậu cần kỹ thuật, kịp thời cung cấp đạn dược, vũ khí cho các đại đoàn chủ lực tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Những đóng góp âm thầm ấy đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của LLVT Quân khu 2.
Vững vàng giữa những năm tháng khốc liệt
Sau năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong bối cảnh đó, ngành Quân khí Quân khu 2 tiếp tục đảm nhận trọng trách nặng nề: Tiếp nhận, quản lý, cấp phát và bảo đảm kỹ thuật cho khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 2 vừa là hậu phương trực tiếp, vừa là tuyến vận chuyển chiến lược nối hậu phương miền Bắc với các chiến trường Tây Nguyên và Hạ Lào. Những kho tàng, trạm xưởng của ngành Quân khí nằm sâu trong núi rừng liên tục trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của Không quân Mỹ.
Giữa hoàn cảnh đó, cán bộ, chiến sĩ quân khí vẫn kiên trì bám trụ, thực hiện tốt phương châm “giữ tốt, dùng bền”. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật được áp dụng hiệu quả, góp phần sửa chữa thành công hàng nghìn khẩu pháo, súng bộ binh, súng cối; đồng thời bảo quản an toàn khối lượng lớn đạn dược, vũ khí phục vụ chiến đấu.
Không chỉ bảo đảm đầy đủ, kịp thời vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) cho LLVT Quân khu, ngành Quân khí còn tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ sử dụng thành thạo các loại hỏa khí, khí tài mới. Chính sự chủ động, sáng tạo trong công tác kỹ thuật đã góp phần giúp LLVT Quân khu 2 bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bảo vệ vững chắc bầu trời và các tuyến giao thông chiến lược.
Đặc biệt, trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, những người lính quân khí tiếp tục đối mặt với vô vàn hiểm nguy. Đạn dược, khí tài phải hoạt động liên tục trong điều kiện chiến đấu khốc liệt, địa hình đồi núi phức tạp. Nhiều cán bộ, chiến sĩ quân khí trực tiếp có mặt tại các điểm nóng, bám sát trận địa để sửa chữa, bổ sung hỏa lực cho đơn vị chiến đấu.
Hình ảnh người chiến sĩ quân khí lưng áo đẫm mồ hôi, thao tác khẩn trương dưới giao thông hào, mang băng đạn vượt qua mưa bom bão đạn đã trở thành biểu tượng đẹp của tinh thần tận tụy, trách nhiệm và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Đổi mới tư duy, làm chủ công nghệ
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, ngành Quân khí Quân khu 2 đã chủ động đổi mới tư duy, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý, bảo quản và sửa chữa VKTBKT.
Hoạt động bảo quản, bảo dưỡng vũ khí trang bị kỹ thuật tại Xưởng X78 (Cục Hậu cần-Kỹ thuật) Quân khu 2. Ảnh: HỒNG SÁNG
Cục Kỹ thuật và ngành Kỹ thuật Quân khu đã tham mưu triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng công tác quân khí. Hệ thống kho tàng, trạm xưởng từng bước được quy hoạch, củng cố theo hướng chính quy, thống nhất, mẫu mực; công tác niêm cất, bảo quản vũ khí được thực hiện chặt chẽ, khoa học.
Điểm nổi bật trong giai đoạn này là phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật phát triển mạnh mẽ. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã tích cực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào quản lý vũ khí trang bị kỹ thuật.
Nhiều sáng kiến có giá trị thực tiễn cao được ứng dụng hiệu quả tại các đơn vị, như thiết bị bán tự động trong in ký hiệu đạn; các quy trình công nghệ mới trong bảo dưỡng, sửa chữa, tân trang vũ khí; giải pháp kiểm tra tình trạng kỹ thuật pháo binh và vũ khí bộ binh. Những sáng kiến này không chỉ giảm sức lao động, nâng cao độ chính xác, mà còn kéo dài tuổi thọ trang bị, bảo đảm an toàn tuyệt đối kho tàng.
Quy trình bảo quản súng tiểu liên AK tại Xưởng X78, Cục Hậu cần-Kỹ thuật Quân khu 2. Ảnh: HỒNG SÁNG
Hằng năm, ngành Quân khí Quân khu 2 đều hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kỹ thuật được giao, bảo đảm đầy đủ VKTBKT cho nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.
Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, cán bộ, chiến sĩ quân khí còn luôn sát cánh cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Mỗi mùa mưa lũ, lực lượng quân khí vừa bảo đảm an toàn kho tàng, vừa tham gia hỗ trợ nhân dân sơ tán, khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
Vững bước trong kỷ nguyên mới
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đối với ngành Quân khí Quân khu 2, đây vừa là cơ hội, vừa đặt ra nhiều yêu cầu mới trong xây dựng lực lượng và nâng cao năng lực bảo đảm kỹ thuật.
Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, ngành Quân khí xác định tiếp tục xây dựng lực lượng theo hướng hiện đại, chính quy, làm chủ khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Trọng tâm hàng đầu là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, bản lĩnh chính trị vững vàng và tư duy đổi mới sáng tạo. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được xác định là yếu tố then chốt để tiếp nhận, quản lý và khai thác hiệu quả các hệ thống VKTBKT hiện đại.
Cùng với đó, ngành Quân khí tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý kho tàng, số hóa dữ liệu lý lịch VKTBKT, triển khai các phần mềm quản lý kỹ thuật thông minh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm tính chính xác, minh bạch và an toàn.
Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong LLVT Quân khu 2 đặc biệt quan tâm. Ảnh: HỒNG SÁNG
Phong trào nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật sẽ tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Ngành Kỹ thuật Quân khu chú trọng phối hợp với các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu trong Quân đội để ứng dụng thành tựu khoa học quân sự tiên tiến vào thực tiễn.
Đồng thời, ngành tiếp tục quy hoạch, củng cố hệ thống kho tàng, trạm xưởng theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Công tác bảo đảm an toàn kho tàng, phòng chống cháy nổ, an toàn lao động được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, tuyệt đối không để xảy ra mất an toàn do chủ quan.
Trong điều kiện địa bàn Tây Bắc rộng lớn, hiểm trở, việc phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương để huy động nguồn lực phục vụ công tác kỹ thuật cũng là yêu cầu cấp thiết. Việc kết hợp năng lực công nghiệp dân sinh với nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật quốc phòng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.
80 năm đã đi qua, truyền thống “chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, an toàn, chính xác” của ngành Quân khí Quân khu 2 vẫn luôn được các thế hệ cán bộ, nhân viên kỹ thuật tiếp nối và phát huy. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, các chiến sĩ quân khí vẫn lặng thầm giữ vững mạch nguồn hỏa lực cho LLVT Quân khu, góp phần xây dựng LLVT ngày càng vững mạnh, bảo vệ vững chắc biên cương Tây Bắc của Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Đại tá MAI VĂN TỐC, Phó chủ nhiệm Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu 2