Phóng viên: Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước. Qua nhiều năm tổ chức, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) đã khẳng định vị trí trong đời sống văn hóa-du lịch. Xin ông cho biết vai trò, ý nghĩa của sự kiện này trong tôn vinh bản sắc 54 dân tộc và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) không chỉ là một sự kiện mang tính lễ hội mà đã trở thành biểu tượng của sự hội tụ, gắn kết và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, sự kiện đóng vai trò như một “màng lọc văn hóa” giúp khẳng định và tôn vinh bản sắc riêng biệt của 54 dân tộc anh em đồng thời tạo dựng không gian đối thoại, giao lưu văn hóa chung.
Cục trưởng Văn hóa dân tộc Trịnh Ngọc Chung.
Giá trị cốt lõi của Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) nằm ở sự tôn vinh toàn diện: Không chỉ các di sản vật thể như trang phục, kiến trúc, lễ hội mà còn là “vốn sống” – những giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng, tri thức dân gian của đồng bào.
Đây chính là nền tảng để chuyển hóa văn hóa thành nguồn lực nội sinh, góp phần củng cố lòng tự hào dân tộc, tăng cường sự hiểu biết, sẻ chia giữa các vùng miền, từ đó lan tỏa mạnh mẽ các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.
Phóng viên: Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam là thiết chế quan trọng trong bảo tồn, giới thiệu và giáo dục giá trị văn hóa dân tộc. Từ thực tiễn tổ chức các hoạt động tại Làng, xin ông cho biết những kết quả nổi bật đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa?
Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy, Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung và đoàn đại biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em tại Lễ báo công dâng Bác và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4.
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Trong thời gian qua, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam đã từng bước khẳng định vai trò là “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc. Điểm nổi bật là di sản văn hóa không chỉ được trưng bày mà còn “sống” thông qua các hoạt động sinh hoạt, trình diễn, giao lưu hằng ngày của đồng bào.
Đồng bào Mường chào đón mùa xuân.
Các sự kiện thường niên quy mô như Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”, Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc-Di sản văn hóa Việt Nam” và đặc biệt là Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4 đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, công tác tổ chức vẫn còn một số khó khăn, thách thức. Trước hết là vấn đề bảo đảm tính bền vững trong việc duy trì sự hiện diện thường xuyên của đồng bào tại Làng. Hiện nay Làng đang giữ vững hoạt động thường xuyên của 16 cộng đồng dân tộc. Điều này đòi hỏi nguồn lực tài chính ổn định và chính sách an sinh phù hợp. Bên cạnh đó, việc cân bằng giữa bảo tồn tính nguyên bản và khai thác du lịch còn nhiều áp lực; nguy cơ “sân khấu hóa” quá mức có thể làm suy giảm giá trị đích thực của di sản.
Phóng viên: Sự tham gia của các địa phương thông qua tái hiện không gian văn hóa, lễ hội, sinh hoạt truyền thống ngày càng phong phú. Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả phối hợp giữa Làng với các địa phương trong việc hình thành không gian giao lưu, quảng bá văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số? Cần có những đổi mới gì để nâng cao hiệu quả lan tỏa đặc biệt đến thế hệ trẻ?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Sự phối hợp giữa Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam và các địa phương là mối quan hệ mang tính gắn bó chặt chẽ trong đó địa phương là nơi bảo tồn nguyên gốc di sản, còn Làng đóng vai trò là “cửa sổ” quảng bá và lan tỏa. Thực tế cho thấy, việc tái hiện các không gian văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán… đã góp phần đưa di sản đến gần hơn với công chúng.
Các em nhỏ vui chơi tại Làng.
Trong thời gian tới, để tăng sức hấp dẫn đối với thế hệ trẻ, cần chuyển mạnh từ hình thức “trình diễn” sang “trải nghiệm tương tác”; khuyến khích sự tham gia của nghệ nhân trẻ – những người có khả năng truyền tải văn hóa bằng ngôn ngữ hiện đại đồng thời tổ chức các hoạt động như workshop thủ công, âm nhạc đương đại dựa trên chất liệu dân gian. Mục tiêu là để văn hóa dân tộc được nhìn nhận như một dòng chảy sống động gắn với đời sống hôm nay.
Phóng viên: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, văn hóa dân tộc đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị trong không gian mới. Theo ông, cần có những đổi mới như thế nào về nội dung, phương thức tổ chức cũng như cơ chế phối hợp liên ngành để Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) từng bước trở thành sự kiện văn hóa-du lịch có thương hiệu đồng thời đưa Làng trở thành trung tâm hội tụ, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc trong nước và quốc tế?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần định vị Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam như một “Thương hiệu Văn hóa – Du lịch quốc gia”. Theo đó, cần tăng cường liên kết giữa các ngành: Văn hóa, du lịch, ngoại giao, truyền thông để tạo sức mạnh tổng hợp trong quảng bá.
Về nội dung, cần đa dạng hóa hoạt động, kết hợp giữa lễ hội truyền thống với các diễn đàn xúc tiến đầu tư văn hóa, các chương trình nghệ thuật quy mô lớn mang tầm quốc tế. Mục tiêu là xây dựng Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành trung tâm hội tụ, sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc, là điểm đến không thể thiếu đối với du khách trong hành trình khám phá Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần định vị Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam như một “Thương hiệu Văn hóa-Du lịch quốc gia”.
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung
Trong năm 2025, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động điểm nhấn, tiêu biểu như đón tiếp bà Ishiba Yoshiko- phu nhân Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru và bà Lê Thị Bích Trân, phu nhân nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến thăm và trải nghiệm các hoạt động văn hóa; tổ chức chương trình khảo sát, giới thiệu điểm đến với sự tham gia của hơn 60 doanh nghiệp lữ hành và đơn vị kinh doanh du lịch; quảng bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam tới đoàn đại biểu gồm các đại sứ, đại biện và trưởng cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam…
Giới thiệu văn hóa và các sản vật Tây Nguyên.
Các hoạt động này góp phần tăng cường kết nối giữa Làng với cộng đồng doanh nghiệp du lịch, thúc đẩy giao lưu văn hóa, củng cố hiểu biết và thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế. Qua đó, Làng từng bước lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
Phóng viên: Nghị quyết số 80-NQ/TƯ ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa. Đối với công tác văn hóa dân tộc, nơi còn những khoảng trống về chính sách, theo ông cần những giải pháp gì để hoàn thiện khung pháp lý đặc biệt là các cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính, thuế nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là định hướng quan trọng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong phát triển văn hóa. Đối với lĩnh vực văn hóa dân tộc, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm:
Lễ hội xuống đồng của người Sán Chay.
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế đầu tư theo hướng đẩy mạnh hợp tác công-tư, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động nguồn lực xã hội hóa vào bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, đầu tư hạ tầng nền tảng và định hướng phát triển.
Thứ hai, xây dựng chính sách ưu đãi về tài chính và thuế như miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hóa dân tộc đặc biệt là các làng nghề truyền thống và sản phẩm văn hóa đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số.
Chương trình dân ca dân vũ của đồng bào Thái.
Thứ ba, nghiên cứu triển khai cơ chế chi trả dịch vụ môi trường văn hóa, theo đó trích một phần nguồn thu từ hoạt động du lịch để tái đầu tư trực tiếp cho cộng đồng – những chủ thể đang gìn giữ và phát huy di sản tại địa phương.
Phóng viên: Sự tham gia trực tiếp của đội ngũ nghệ nhân và cộng đồng giữ vai trò quyết định bảo đảm tính chân thực của các hoạt động văn hóa. Trên cơ sở yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TƯ đối với chính sách đãi ngộ nghệ nhân, cần có những giải pháp cụ thể nào để phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Nghệ nhân chính là “di sản sống”, giữ vai trò trung tâm trong việc bảo tồn và truyền dạy các giá trị văn hóa. Việc phục dựng, tái hiện lễ hội với sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân đã góp phần bảo đảm tính chân thực và sức hấp dẫn của các hoạt động văn hóa.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, cần cụ thể hóa chính sách đãi ngộ theo hướng toàn diện hơn, không chỉ hỗ trợ về tài chính mà còn bảo đảm các điều kiện về bảo hiểm, đời sống, không gian sáng tạo.
Du khách nước ngoài tham quan tại Làng.
Bên cạnh đó cần triển khai hiệu quả chương trình “Nghệ nhân truyền dạy”, hỗ trợ kinh phí để nghệ nhân trực tiếp đào tạo thế hệ kế cận. Khi nghệ nhân có thể sống được bằng chính di sản của mình, công tác bảo tồn mới thực sự bền vững.
Hằng năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội nghị gặp mặt già làng, trưởng bản, nghệ nhân và người có uy tín, vừa để ghi nhận, tôn vinh những đóng góp trong gìn giữ, truyền dạy, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tại cộng đồng đồng thời lắng nghe ý kiến, tổng hợp kiến nghị để phục vụ công tác quản lý và hoàn thiện chính sách.
Du khách tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam.
Phóng viên: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, trong Nghị quyết số 80-NQ/TƯ của Bộ Chính trị cũng như Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đặt ra những mục tiêu cụ thể về phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ phục vụ chuyển đổi số. Theo ông, cần giải pháp gì để đẩy mạnh số hóa, bảo tồn và lan tỏa hiệu quả các giá trị văn hóa dân tộc đồng thời bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng, tránh nguy cơ mai một bản sắc trong môi trường số?
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung: - Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để bảo tồn và lan tỏa di sản, song cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính xác thực và vai trò chủ thể của cộng đồng. Do đó, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về văn hóa 54 dân tộc với chất lượng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến để lưu trữ, giới thiệu di sản một cách sinh động, đa ngôn ngữ.
Cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về văn hóa 54 dân tộc với chất lượng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến để lưu trữ, giới thiệu di sản một cách sinh động, đa ngôn ngữ.
Cục trưởng Trịnh Ngọc Chung
Song song với đó là đào tạo nguồn nhân lực vừa am hiểu văn hóa dân tộc, vừa có năng lực công nghệ số. Đặc biệt, cần khuyến khích cộng đồng trực tiếp tham gia vào quá trình số hóa và truyền thông di sản, qua đó giúp văn hóa được lan tỏa một cách tự nhiên, chân thực. Yếu tố cốt lõi là bảo đảm văn hóa dân tộc không bị “đóng khung” hay biến dạng trong môi trường số, mà tiếp tục được phát triển như một thực thể sống, gắn với cộng đồng và thời đại.
Phóng viên: Xin chân thành cảm ơn ông!
TUYẾT LOAN - NGỌC LIÊN