Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng từng đặt câu hỏi này: “Tiếng đàn của bát đàn, hiện nay, các ông già bán bát đàn còn ở phố Bát Đàn cũng không hiểu nghĩa là gì. Chỉ biết là tên của loại bát tầm thường và không đẹp. “Việt Nam tân từ điển” của Thanh Nghị cũng chỉ giảng bát đàn là bát thường và xấu, nhưng không nói nghĩa đen của tiếng "đàn", và cũng không cho thí dụ những trường hợp khác có tiếng đàn mang nghĩa là thường và xấu.
Phố Bát Đàn đầu thế kỷ XX - ảnh tư liệu.
Có người đoán đàn là do tiếng đàn tràng. Ngày xưa, những người mê tín khi trong nhà có người ốm, thì lập đàn để cúng ma. Các thứ đồ cúng, mới đầu đặt trên lá chuối, hoặc mảnh vỏ dừa. Rồi sau mới đặt lên bát, thứ bát xấu, rẻ tiền. Vì cúng xong, thì vứt đi, bởi lẽ ma đã dùng thì người không dùng nữa. Thứ bát dùng để cúng đàn, gọi là bát đàn. Rồi làng Bát Tràng làm nhiều bát ấy để bán. Nhân dân thấy rẻ thì mua. Hiện nay một vài hàng nước ở nông thôn còn giữ được một ít bát đàn” (theo “Nguyễn Công Hoan, nhà văn hiện thực lớn”, NXB Hội Nhà văn -1993, tr.355).
Về ý kiến này, kiểm chứng lại “Việt Nam tân từ điển” của Thanh Nghị, ta thấy không như nhà văn Nguyễn Công Hoan dẫn chứng mà câu giải thích là: “Bát đàn (grand bol): bát lớn”. Và, khi ông cho “bát đàn” từ “đàn tràng” mà ra, liệu chừng có hợp lý? Tôi nghĩ rằng không, bởi bản thân từ “đàn” có nghĩa hẳn hoi.
Trước hết ta xem từ điển giải thích ra làm sao, chẳng hạn, “Bát nông lòng, làm bằng đất nung thô có tráng men” (“Từ điển Việt Nam”, 1988). “Bát đàn: Đồ đất nung hạng xấu, có tráng men: bát đàn, dĩa đàn” (“Việt Nam tự điển”, 1931). Từ hai giải thích này, ta thấy bộ từ điển do Hội Khai Trí Tiến Đức biên soạn năm 1931 là chính xác hơn cả, vì cho thấy chất lượng của bát đàn (bát xấu, thô), do đó trái ngược với bát sứ (tinh xảo, đẹp), vì thế tục ngữ có câu “Mâm son bát sứ” trái ngược với “Đọi đất mâm đan”.
Tóm lại, đúng như nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết bát đàn là “loại bát tầm thường và không đẹp”, thường chỉ dành cho hạng bình dân, nhà nghèo túng, chẳng hạn trong truyện ngắn “Bà lão lòa”, nhà văn Vũ Trọng Phụng cho biết một hoàn cảnh đáng thương: “Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa”. Đây là bát ăn của hạng người như chị Dậu, Chí Phèo, Thị Nở, anh Pha, Tám Bính… còn trọc phú cỡ Bá Kiến, Nghị Hách, Nghị Quế ắt phải dùng bát sứ.
Tại sao lại gọi sứ/ bát sứ?
Lâu nay, những người mua bán, sưu tập, kể cả các nhà nghiên cứu đồ cổ có cụm từ “đồ sứ ký kiều” - trong tập sách “Khảo về đồ sứ cổ men lam” (NXB TP.Hồ Chí Minh,1993), học giả Vương Hồng Sển giải thích: “Kiểu là kiểu của mình đặt kiểu cho lò sứ Giang Tây, cứ theo mẫu mà làm. Không phải đồ Trung Hoa, rồi mình mang về nước, chuyển cho các lò nội hóa noi theo làm kiểu mẫu. Thí dụ, bạn muốn ký kiểu một bộ chén trà hoàn toàn do sáng kiến của mình, trước hết bạn thuê thợ tiện chén và dĩa theo đúng hình dáng mẫu mực riêng biệt ưa thích của bạn rồi son phấn, thuê họa sĩ vẽ, hay cao hứng bạn vẽ lấy càng hay, cuối cùng chính bạn đề thơ của mình hay của cố nhân cũng được - trường hợp đề thơ cổ phần nhiều do các hiệu buôn đồ sứ ký kiểu. Và bạn sẽ đặt tiền mà gửi mẫu kiểu đó sang Tàu, các lò sứ cứ theo đúng như vậy mà nặn, vẽ và viết. Đưa hàng ký kiểu phần nhiều do bọn lái buôn đồ sứ người Tàu làm trung gian” (tr. 211).
Và như chúng ta đã biết, học giả Vương Hồng Sển là người sưu tầm đồ cổ vào bậc nhất nước Nam ta ở thế kỷ XX, về đồ sứ ký kiểu cụ cho biết mình đã sở hữu hai bộ cực kỳ quý giá: “Một bộ tương truyền do Vũ Huy Tấn ký kiểu trong khi sang Tàu cầu phong tạm thời cho bậc vĩ nhân của dân tộc Việt: Quang Trung Vũ Hoàng đế Nguyễn Huệ. Bộ chén trà có vẽ tích Vương Mãng nhà Tây Tấn và Trần Đoàn thời Chu Mạt, Tống sơ, có đề hai câu nôm:
Mó rận luận chơi thời sự,
Ngã lừa mừng thuở thái bình.
Câu trên ngụ ý Vương Mãng chê chính trị nhà Tây Tấn rối nát (ám chỉ Lê - Trịnh); câu dưới nói lên việc Trần Đoàn ngã lửa cho là điềm chân chúa (Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn) ra đời (ám chỉ Thái tổ Vũ Hoàng đế triều Tây Sơn).
Và một bộ nữa làm vào thời Kiền Long, vẽ một chú tiểu phu nằm bắc chân chữ ngũ, ngũ dưới gốc song trùng, bên chiếc cầu đá, thơ đề cũng hơi kỳ:
Vắt chân nằm ghếch ngáy o o,
Ngẫm xem mới biết Đường Ngu nói thuần”.
Từ các thông tin này, ta có thể đặt câu hỏi, liệu chừng “đồ sứ ký kiểu” có liên quan gì đến “sứ/ bát sứ” không? Phải chăng người ta gọi phố Bát Sứ vì đây chính là nơi bày bán bán đồ sứ ký kiểu? Không hề, muốn có loại sứ này ít ra phải cỡ vua chúa, đại quan hoặc thành phần danh gia vọng tộc mới có thể “ký kiểu” tận Trung Quốc. Còn thường dân thì không thể. Là vật quý, giữ làm của “gia bảo”, ai lại đem ra bán bao giờ?
Vậy sứ/ bát sứ cần hiểu qua nghĩa khác.
Theo nhà văn Nguyễn Công Hoan: “Bát sứ: Là thứ bát đẹp được các quan ta đi sứ sang Triều đình Trung Quốc mua đem về. Tên bát sứ là tiếng nói rút gọn của câu: bát của các quan đi sứ mang về” (SĐD, tr.353). Vậy suy ra phố Bát Sứ là nơi bày bán các loại bát này? Không hợp lý vì “các quan đi sứ mang về” được số lượng bao nhiêu lắm mà bán từ năm này qua tháng nọ?
Chỉ có thể giải thích như thế này: Về các sản vật, vật dụng liên quan đến từ sứ, sách “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) có nêu ra vài dẫn chứng và giải thích: “Cây hoa sứ, sứ tàu, sứ ma: Thứ cây có hoa thơm tho, có hai giống: giống bên Trung Quốc đem qua gọi sứ Tàu, lớn cây, bông có vàng trắng hai sắc, mà thơm ngọt; còn một giống nhỏ cây gọi là sứ ma, lớn bông mà thơm gắt”. Ta hiểu sở dĩ từ sứ xuất hiện là do ngày xưa các quan đi sứ nước ngoài đem giống về trồng; không chỉ từ Trung Quốc mà từ Thái Lan cũng có từ sứ, thí dụ chuối xiêm/ chuối sứ v.v…
Từ giải thích này, ta có thể suy ra sở dĩ gọi người ta gọi phố Bát Sứ, chính vì nơi này bày bán các loại đồ sứ nhập từ Trung Quốc. Lập luận thế này là chắc ăn, đố ai có lý lẽ nào khác để có thể phản bác? Không đâu. Những tưởng lý lẽ trên hợp lý nhưng lại trật bởi trong trường hợp này là người ta không gọi bát sứ mà lại gọi bát ngô, ta còn tìm thấy dấu vết trong ca dao:
Bát Ngô, Bát Sắt đem qua
Hàng Vải, Hàng Thiếc lại ra Hàng Hòm.
Gọi bát ngô là bát của người Ngô cũng tựa cách gọi bí ngô, lúa ngô… Được biết phố Bát Ngô cũng từng là tên gọi của phố Bát Sứ. Như vậy, khi gọi phố Bát Sứ thì ta biết nơi này không chỉ bày bán các loại bát sứ do người Việt sản xuất mà còn có cả đồ sứ nhập từ Trung Quốc. Và, người ta gọi sứ/ bát sứ là gọi theo mặt hàng, theo chất liệu làm ra các sản phẩm đó như ta có các từ gốm sứ, gốm sành. Vậy hàng bán ở phố Bát Sứ do bằng sứ kiểu đẹp, tinh xảo, chất lượng tốt nên ta gọi thành danh từ riêng. Tương tự không khác gì trường hợp của cách gọi đàn/ Bát Đàn. Tất nhiên ở hai phố này, không chỉ bày bán bát đàn, bát sứ mà còn có các vật dụng khác như chậu sành, chum, vại, lộc bình, ấm sứ, dĩa chén, chậu hoa, điếu bát…
Lê Minh Quốc