Siết điều kiện nuôi trồng, kiểm soát khai thác IUU
Nghị định 41 (thay thế Nghị định 26/2019/NĐ-CP và Nghị định 309/2025/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành từ ngày 26/1/2026, phạm vi điều chỉnh bao trùm toàn bộ hoạt động cốt lõi của ngành, từ quy định về nuôi trồng thâm canh, bán thâm canh đến quản lý hoạt động khai thác trong và ngoài vùng biển Việt Nam.
Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực thủy sản hoặc có liên quan đến hoạt động thủy sản tại nội địa, đảo, quần đảo và vùng biển Việt Nam; các tổ chức, cá nhân Việt Nam khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam.
Đáng chú ý, Nghị định quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị trong nuôi trồng thủy sản; nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường như: bố trí riêng biệt khu chứa chất thải, xử lý nước thải sinh hoạt và sử dụng vật liệu không gây ô nhiễm, không độc hại cho thủy sản.
Việc ban hành Nghị định số 41/2026/NĐ-CP đã kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý thủy sản. Ảnh: Thiện Tâm
Nghị định cũng lần đầu đặt ra các yêu cầu riêng với từng hình thức nuôi. Trong đó, cơ sở nuôi thâm canh, bán thâm canh phải có hệ thống xử lý nước cấp và nước thải riêng biệt; hoạt động nuôi lồng bè, đăng quầng bắt buộc phải có thiết bị cảnh báo bảo đảm an toàn giao thông thủy.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản phải lập phương án hoặc dự án nuôi trồng trên biển, bảo đảm tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và có giải pháp ứng phó thiên tai, sự cố.
Ngoài ra, Nghị định mở rộng và làm rõ các trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển; nhất là với ngư dân chuyển đổi nghề từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản và các cá nhân có thu nhập chủ yếu từ hoạt động nuôi trồng, góp phần khuyến khích chuyển đổi sinh kế bền vững.
Liên quan đến khai thác thủy sản, Nghị định quy định cụ thể về giám sát viên trên tàu cá Việt Nam hoạt động khai thác trong vùng biển Việt Nam; việc cấp phép xuất khẩu đối với các loài thủy sản thuộc danh mục cấm xuất khẩu hoặc xuất khẩu có điều kiện nhưng chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, trong trường hợp phục vụ nghiên cứu khoa học hoặc hợp tác quốc tế.
Đồng thời, bổ sung các quy định về việc kiểm soát tàu nước ngoài khai thác, vận chuyển, chuyển tải thủy sản, sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác cập cảng Việt Nam. Tăng cường kiểm soát thủy sản, sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác được vận chuyển bằng tàu container nhập khẩu vào Việt Nam. Các quy định này nhằm tăng cường thực thi các cam kết quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực gỡ thẻ vàng IUU.
Ở phần giải thích từ ngữ, Nghị định cũng giải thích rõ các hành vi khai thác thủy sản IUU, phù hợp với luật pháp quốc tế và các khuyến nghị của các tổ chức quản lý nghề cá khu vực; từ đó tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Số hóa thủ tục, chú trọng bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Không dừng lại ở các quy định quản lý, Nghị định còn tạo đột phá trong cải cách thủ tục hành chính.
Theo đó, tổ chức, cá nhân được nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính bằng nhiều hình thức gồm: nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa, thông qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng định danh quốc gia. Hồ sơ được nộp với số lượng 1 bộ, bằng bản giấy hoặc bản điện tử theo hình thức thực hiện thủ tục.
Trong trường hợp xảy ra thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức kiểm tra, đánh giá thực tế tại cơ sở, cơ quan có thẩm quyền được áp dụng hình thức đánh giá trực tuyến, tạm hoãn hoặc gia hạn có thời hạn các loại giấy phép, giấy chứng nhận theo quy định. Bảo đảm linh hoạt trong tổ chức thực hiện thủ tục hành chính nhưng vẫn giữ nguyên trách nhiệm quản lý nhà nước.
Ngoài ra, để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững, Nghị định dành riêng một chương quy định về việc thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đây là công cụ tài chính hỗ trợ cho các chương trình, dự án và hoạt động phi dự án về bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản không nằm trong kế hoạch ngân sách nhà nước.
Quỹ có chức năng vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện, tài trợ, ủy thác của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đồng thời tổ chức thẩm định, quyết định hỗ trợ, kiểm tra, giám sát và nghiệm thu các hoạt động do Quỹ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Quỹ được tổ chức ở hai cấp gồm quỹ trung ương và quỹ cấp tỉnh, hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Nguồn tài chính của Quỹ được hình thành theo quy định của Luật Thủy sản, được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước; tập trung cho các hoạt động tuyên truyền, tái tạo nguồn lợi thủy sản, phục hồi hệ sinh thái, hỗ trợ chuyển đổi nghề và sinh kế bền vững, góp phần bảo vệ lâu dài nguồn lợi thủy sản và phát triển ngành thủy sản bền vững.
Trúc Oanh