Hành lang cho năng lượng đi trước một bước
Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết bảo đảm đủ năng lượng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ. Trong bối cảnh những điểm nghẽn về thể chế và cơ chế đầu tư ngày càng thể hiện rõ, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 về các cơ chế chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, mở ra hành lang pháp lý đặc thù, linh hoạt, tháo gỡ vướng mắc, khơi thông nguồn lực và tạo nền tảng để ngành năng lượng đi trước một bước trong giai đoạn phát triển mới.
Liên quan đến Nghị quyết 253, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương ông Hà Đăng Sơn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh cho rằng, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ là một giai đoạn đầy thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.
Theo định hướng tại các nghị quyết gần đây của Quốc hội, đất nước đặt mục tiêu đạt tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới.
Ông Hà Đăng Sơn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh. Ảnh: Thanh Tuấn
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đưa ra những góc nhìn rất mới và quan trọng, đặc biệt là nhấn mạnh vai trò then chốt của an ninh năng lượng, phát triển các nguồn điện và hệ thống lưới điện nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch năng lượng trong giai đoạn tới.
Nhìn tổng thể, các quy định và cơ chế chính sách của giai đoạn trước đây vẫn còn tồn tại nhiều nội dung chưa thực sự phù hợp với bối cảnh phát triển hiện nay. Tuy nhiên, để có thể sửa đổi và hiệu chỉnh một cách toàn diện, triệt để các chính sách này thì đòi hỏi rất nhiều thời gian.
"Quốc hội ban hành Nghị quyết 253 mang tính chất đặc thù nhằm kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, đồng thời đáp ứng yêu cầu mà Nghị quyết 70 đã đặt ra trong bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn từ nay đến năm 2030 là hết sức quan trọng, cần thiết”, ông Sơn bày tỏ.
Theo chuyên gia năng lượng, Nghị quyết 70 đặt ra những yêu cầu và thách thức rất lớn trong việc bảo đảm cung ứng đầy đủ năng lượng, đặc biệt là điện năng cho nền kinh tế trong giai đoạn tới. Nghị quyết 253 được xây dựng trên cơ sở tiếp thu ý kiến đóng góp, phản hồi từ khu vực tư nhân, các doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nhà nước, với mục tiêu tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để có thể triển khai nhanh nhất các dự án nguồn điện và các dự án lưới điện trong thời gian tới.
Thời gian qua, Chính phủ cũng đã ban hành danh mục các dự án trọng điểm, các dự án cấp bách, quan trọng. Điều này cho thấy, đối với những dự án đầu tư trọng điểm, có tính chất đặc thù, đặc biệt là các dự án năng lượng, thì rất cần được áp dụng những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để rút ngắn thời gian triển khai, đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp thiết của giai đoạn phát triển mới.
Ông Hà Đăng Sơn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh chia sẻ về Nghị quyết 253 với phóng viên Báo Công Thương. Video: Trường Giang
“Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 253 đã cụ thể hóa một cách rõ nét và thực chất những nội dung lớn đã được nêu trong Nghị quyết 70, qua đó tạo hành lang pháp lý và cơ chế đủ mạnh để bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới”, ông Sơn đánh giá.
Tạo xung lực mới cho ngành năng lượng
Cũng theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh, Nghị quyết 253 mang tính chất đột phá và có nhiều điểm chưa từng có tiền lệ. Trước đây, khi nói đến điều chỉnh quy hoạch, cấp phép đầu tư hay tổ chức đấu thầu các dự án năng lượng, việc triển khai trên thực tế thường phải phụ thuộc và chịu chi phối bởi rất nhiều luật khác nhau như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai…
Sự chồng chéo này dẫn tới việc cách hiểu, cách vận dụng giữa các cấp, các ngành có thể không thống nhất, từ đó gây ra những chậm trễ đáng kể trong quá trình xem xét, phê duyệt hồ sơ và triển khai các dự án nguồn điện và lưới điện. Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết lần này, có thể thấy khung pháp lý đã được làm rõ hơn rất nhiều.
"Thay vì phải mất thêm thời gian để sửa đổi đồng bộ các luật đã được ban hành trước đó, trong đó có những luật mới ban hành từ năm 2025, Nghị quyết của Quốc hội được ban hành đã trở thành căn cứ pháp lý trực tiếp để Bộ Công Thương cũng như các địa phương có thể chủ động, linh hoạt trong điều hành, điều chỉnh và triển khai”, ông Sơn nhận định.
Cụm giàn khai thác Mỏ Rạng Đông. Ảnh: Petrovietnam
Theo chuyên gia năng lượng, một điểm rất quan trọng khác là nghị quyết đã đặc biệt nhấn mạnh đối với các dự án trọng điểm, các dự án cấp bách, có ý nghĩa then chốt đối với an ninh năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh các thách thức mới ngày càng lớn, những dự án này đòi hỏi cách tiếp cận thực tiễn hơn, quyết liệt hơn và nhanh hơn, không thể kéo dài thời gian chờ đợi do phải xin ý kiến qua nhiều cấp, nhiều ngành như trước đây.
Tính đột phá của nghị quyết thể hiện rõ ở chỗ đã hình thành một hành lang pháp lý đủ mạnh, cho phép các cơ quan quản lý nhà nước hành động một cách cụ thể hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của ngành năng lượng trong giai đoạn mới.
Chia sẻ về những kỳ vọng của nghị quyết trong kỷ nguyên vươn mình, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh cho hay, thông điệp “điện đi trước một bước” đã được thể hiện rất rõ trong các nghị quyết được ban hành thời gian qua. An ninh năng lượng được xác định là yếu tố then chốt, tạo nền tảng ổn định để thu hút đầu tư, không chỉ từ khu vực tư nhân trong nước mà còn từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh Nghị quyết 70, Bộ Chính trị cũng đã ban hành các nghị quyết quan trọng khác mang tính song hành.
Thứ nhất, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi nhất để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư ngành điện.
Thứ hai, Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó mở rộng hơn vai trò và cơ chế để các doanh nghiệp nhà nước tham gia vào các hoạt động kinh tế, nhất là trong lĩnh vực năng lượng.
“Tôi kỳ vọng trong giai đoạn 2026 - 2030, với các cơ chế, chính sách được thoáng hơn và rõ ràng hơn, cùng với việc phân định thẩm quyền cụ thể giữa Bộ Công Thương và UBND các tỉnh, thành phố, đặc biệt đối với các dự án truyền tải điện và các dự án trọng điểm như điện gió ngoài khơi, quá trình xem xét, phê duyệt sẽ tránh được những vướng mắc, góp phần củng cố niềm tin của các nhà đầu tư”, ông Sơn nhấn mạnh.
Với cách tiếp cận đặc thù, Nghị quyết 253 được kỳ vọng sẽ giải quyết những nút thắt lớn về thể chế, bảo đảm cung ứng đủ năng lượng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Ảnh minh họa
Theo ông Sơn, một điểm rất đáng chú ý là cơ chế mua bán điện trực tiếp. Đây là cơ chế đã được đề xuất từ khá lâu và được đề cập trong nhiều quyết định, nghị định, tuy nhiên việc triển khai trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Với nghị quyết lần này, cơ chế mua bán điện trực tiếp đã được quy định rõ ràng hơn, phạm vi các chủ thể tham gia cũng được mở rộng.
“Bên cạnh các hình thức mua bán điện theo phương thức truyền thống, việc hoàn thiện và làm rõ cơ chế mua bán điện trực tiếp sẽ mở ra thêm cơ hội thu hút nguồn vốn tư nhân vào ngành điện, tạo xung lực phát triển mới cho nền kinh tế, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong giai đoạn phát triển tới”, ông Sơn kỳ vọng.
Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương sẽ tổ chức “Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030”, góp phần cụ thể hóa nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.Diễn đàn có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp…, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt góp phần đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Thanh Bình