Nghị quyết 79-NQ/TW nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Nghị quyết 79-NQ/TW nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
6 giờ trướcBài gốc
PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Ảnh: Ngô Hiển
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược.
Để làm rõ hơn những yêu cầu và kỳ vọng từ thực tiễn triển khai Nghị quyết 79-NQ/TW, PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng đã trao đổi với Tạp chí Công dân và Khuyến học về việc nâng cao hoạt động hiệu quả kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với nhiều năm nghiên cứu về chính sách thương mại, quản trị doanh nghiệp và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, ông phân tích sâu sắc về vai trò của kinh tế nhà nước, những rào cản thể chế cần tháo gỡ, cũng như các điều kiện để lĩnh vực này thực sự phát huy vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thủ tướng Võ Văn Kiệt và các chuyên gia kinh tế (PGS.TS Nguyễn Văn Nam, hàng 2, thứ 2 từ trái trong thời gian làm Tổ tư vấn của Thủ tướng). Ảnh: NVCC
Tháo gỡ "nút thắt" của doanh nghiệp giữa nguyên tắc thị trường
- Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước trong khuôn khổ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo ông, đâu là điểm khó nhất trong việc dung hòa giữa nguyên tắc thị trường (cạnh tranh, lợi nhuận, rủi ro) với yêu cầu định hướng xã hội và ổn định vĩ mô?
PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Nghị quyết 79-NQ/TW đặt ra mục tiêu nâng cao vai trò và hiệu quả của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không chỉ ở việc cải tổ doanh nghiệp nhà nước, mà còn ở cách định hướng hoạt động theo nguyên tắc của thị trường, có cạnh tranh, lợi nhuận, rủi ro.
Trên thế giới, cũng doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường ví dụ là Temasek Holdings do Chính phủ Singapore quản lý.
Dù thuộc sở hữu nhà nước, các tổ chức này lại hoạt động theo cơ chế thị trường: tự chủ trong đầu tư, chịu trách nhiệm về hiệu quả và lợi nhuận, cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Chính cơ chế quản trị đó giúp doanh nghiệp nhà nước của Singapore đạt hiệu quả cao và có sức cạnh tranh toàn cầu.
Nhiều doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thường gặp khó khăn khi phải thực hiện đồng thời nhiều mục tiêu: vừa kinh doanh có lãi, vừa thực hiện nhiệm vụ xã hội, vừa chịu sự quản lý hành chính. Khi các mục tiêu này chồng chéo mục tiêu chính trị xã hội lên trên dẫn tới hiệu quả kinh doanh dễ bị ảnh hưởng.
Một vấn đề khác là sự chưa rõ ràng trong việc xác định nội hàm của "định hướng xã hội chủ nghĩa". Nếu mục tiêu cuối cùng chưa được định nghĩa cụ thể, thì việc đưa các chính sách kinh tế thúc đẩy cũng trở nên khó khăn.
Trước đây, trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa, nhà nước giữ vai trò chủ đạo thông qua ba trụ cột: sở hữu công về tư liệu sản xuất, hệ thống hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều yếu tố trong số đó đã thay đổi.
Điều tiên quyết là phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo môi trường cạnh tranh minh bạch và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Chỉ khi doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động theo quy luật của thị trường, được giao những nhiệm vụ chiến lược rõ ràng, thì mới có thể phát huy vai trò trong nền kinh tế Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Văn Nam
Một ví dụ điển hình là vấn đề đất đai. Về mặt pháp lý, đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý, nhưng quyền sử dụng đất được trao cho người dân và doanh nghiệp.
Trên thực tế, quyền sử dụng đất trở thành một loại tài sản có thể chuyển nhượng và tạo ra giá trị kinh tế. Điều này cho thấy cơ chế thị trường đã dần được mở rộng, dù trên danh nghĩa vẫn duy trì một số nguyên tắc của mô hình cũ.
Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực trước đây do nhà nước trực tiếp cung cấp dịch vụ nay đã chuyển sang hình thức "xã hội hóa". Từ y tế, giáo dục đến sản xuất hàng hóa tiêu dùng, khu vực tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn. Điều này phản ánh thực tế rằng nhà nước không thể điều hành toàn bộ các hoạt động kinh tế cụ thể như trước đây.
Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực tư nhân tại Việt Nam vẫn gặp nhiều hạn chế về thể chế. Một trong những nguyên nhân là nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vẫn chưa hoàn chỉnh. Nhiều yếu tố cơ bản của thị trường như đất đai, tài nguyên, năng lượng hay tài chính vẫn chịu sự quản lý hành chính khá chặt chẽ. Khi các nguồn lực này chưa vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp thường phải thông qua các thủ tục hành chính xin-cho, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nhà nước cũng gặp khó khăn khi phải hoạt động trong môi trường "nửa thị trường, nửa hành chính". Một mặt, họ được yêu cầu phải kinh doanh hiệu quả; mặt khác, nhiều quyết định quan trọng vẫn phụ thuộc vào cơ chế quản lý hành chính hoặc các quy định đặc thù. Điều này khiến doanh nghiệp nhà nước khó có thể vận hành linh hoạt như các doanh nghiệp tư nhân.
Một hệ quả khác của cơ chế này là sự thiếu cạnh tranh thực sự trong một số lĩnh vực. Ví dụ, các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, viễn thông hoặc hạ tầng thường có vị thế độc quyền hoặc chiếm thị phần rất lớn. Khi thiếu áp lực cạnh tranh, động lực đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động cũng bị hạn chế. Điều này giải thích vì sao nhiều doanh nghiệp nhà nước tuy có quy mô lớn nhưng vẫn chưa thể vươn ra cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước và quốc tế.
Ngược lại, những lĩnh vực buộc phải tham gia thị trường toàn cầu như xuất khẩu hoặc thương mại quốc tế lại có xu hướng phát triển năng động hơn. Khi tham gia các chuỗi cung ứng quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn cạnh tranh và quản trị của thị trường toàn cầu, từ đó nâng cao năng lực của mình.
Để thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 79-NQ/TW, điều quan trọng nhất là phải xác định rõ vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước trước hết phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, tức là phải kinh doanh có hiệu quả, có sức cạnh tranh, phải tối ưu chi phí và tạo ra lợi nhuận. Khi gặp vướng mắc về đất đai, vốn hay cơ chế đầu tư doanh nghiệp cần báo cáo và tháo gỡ kịp thời.
Bên cạnh đó, nhà nước có thể giao cho doanh nghiệp nhà nước một số nhiệm vụ xã hội hoặc chiến lược, chẳng hạn như phát triển hạ tầng, bảo đảm an ninh năng lượng hoặc thực hiện các dự án lớn có ý nghĩa quốc gia. Tuy nhiên, những nhiệm vụ này cần được xác định rõ ràng và tách bạch với hoạt động kinh doanh thông thường, tránh tình trạng doanh nghiệp vừa phải thực hiện nhiệm vụ công ích vừa phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả tài chính mà không có cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Đổi mới tư duy quản lý để kinh tế Nhà nước thực sự là đầu tàu dẫn dắt của nền kinh tế
- Trong thực tiễn nhiều năm qua, hiệu quả của khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi nằm ở thể chế, cơ chế quản trị hay ở yếu tố con người và cần đột phá ở khâu nào trước?
PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Nhiều năm qua, doanh nghiệp nhà nước quản lý khối lượng lớn vốn, tài sản và các nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, nhưng hiệu quả chưa thật sự nổi bật so với kỳ vọng đặt ra. Vấn đề này cần nhìn thẳng vào nguyên nhân cốt lõi là yếu tố thể chế và cơ chế chính sách, đó là 2 vấn đề then chốt.
Trước hết, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng doanh nghiệp riêng lẻ mà còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường thể chế mà doanh nghiệp đó hoạt động. Khi cơ chế chính sách chưa phù hợp với nguyên tắc của kinh tế thị trường, doanh nghiệp dù có nguồn lực lớn vẫn khó vận hành hiệu quả.
Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất nằm ở cơ chế quản lý. Khi cơ chế chưa rõ ràng hoặc còn mang nặng tư duy quản lý hành chính, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng vừa phải kinh doanh, vừa phải tuân thủ nhiều quy trình và chỉ đạo hành chính phức tạp.
Điều này làm giảm tính chủ động và linh hoạt của doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường. Một số doanh nghiệp dù quy mô lớn, doanh thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm và sử dụng hàng nghìn lao động, nhưng thu nhập của người lao động lại không tương xứng, trong khi các lợi ích phát sinh trong quá trình hoạt động có thể bị sử dụng theo những cách không minh bạch.
Điều này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở cá nhân cụ thể, mà chủ yếu xuất phát từ cơ chế quản lý chưa chặt chẽ. Nếu cơ chế rõ ràng, minh bạch và có hệ thống giám sát hiệu quả thì những hành vi sai lệch sẽ rất khó xảy ra. Người Việt Nam vốn có năng lực và sự nhạy bén trong kinh doanh, vì vậy nếu hệ thống luật pháp minh bạch và ổn định thì doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động hiệu quả.
Vì vậy, giải pháp nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước cần bắt đầu từ việc hoàn thiện đường lối và chính sách phát triển kinh tế thị trường. Một nền kinh tế thị trường đầy đủ và minh bạch sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, đồng thời buộc doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo các nguyên tắc thị trường như hiệu quả, cạnh tranh và đổi mới sáng tạo.
Kinh nghiệm của Trung Quốc để chúng ta tham khảo. Trong quá trình cải cách kinh tế, họ từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khu vực tư nhân và các tập đoàn công nghệ. Nhờ đó, khoa học công nghệ phát triển, kinh tế đã tăng trưởng vượt bậc, vươn lên trở thành một trong những trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
Ở Việt Nam sau bốn thập kỷ đổi mới dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng quy mô và năng lực của nền kinh tế vẫn còn khoảng cách đáng kể so với một số quốc gia trong khu vực. Điều này cho thấy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vẫn là nhiệm vụ trọng tâm nếu muốn tạo ra bước phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Nhiều văn bản pháp luật sau khi ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi vì chưa phù hợp với thực tiễn vận hành của nền kinh tế thị trường. Nguyên nhân sâu xa là do trong quá trình xây dựng luật, tư duy quản lý hành chính vẫn còn chi phối khá mạnh. Khi các quy định mang nặng tính quản lý hành chính, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc vận hành theo logic của thị trường.
Do đó, cải cách quan trọng nhất không chỉ là sửa đổi từng điều khoản cụ thể trong các văn bản pháp luật, mà là thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng thể chế. Các quy định pháp luật cần đặt trên nền tảng của kinh tế thị trường, bảo đảm sự minh bạch, cạnh tranh và quyền tự chủ của doanh nghiệp.
Chỉ khi cơ chế kinh tế thị trường được hoàn thiện, hệ thống pháp luật minh bạch và ổn định, doanh nghiệp nhà nước sẽ có điều kiện hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời phát huy được vai trò trong việc dẫn dắt và hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế.
Từ thực tiễn cho thấy, rào cản lớn nhất với sự phát triển của khu vực kinh tế nhà nước là sự chưa mạnh dạn chuyển cơ chế thị trường, sự thiếu minh bạch trong quản lý và cơ chế hành chính luôn là bóng ma cản bước các dự án chiến lược.
Bước vào kỷ nguyên số và công nghệ lõi, vai trò "dẫn dắt" của kinh tế Nhà nước cần được tái định nghĩa: Không phải là chiếm lĩnh mọi lĩnh vực, mà là mở đường vào những phân khúc rủi ro cao, công nghệ cao mà khu vực tư nhân chưa thể đảm đương, đồng thời kiến tạo một hệ sinh thái bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.
- Nghị quyết nhấn mạnh phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn. Theo ông, mô hình tổ chức nào có thể bảo đảm sự độc lập, minh bạch và tránh xung đột lợi ích trong quản trị vốn nhà nước, cũng như đảm bảo cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác?
PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Trong thực tế nhiều năm qua, hai chức năng này vẫn có những điểm giao thoa, thậm chí chồng chéo. Một số cơ quan quản lý nhà nước vừa ban hành chính sách, vừa tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp có vốn nhà nước. Khi quyền lực hành chính gắn trực tiếp với quyền quyết định kinh tế, nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích hoặc lạm dụng quyền lực là điều khó tránh khỏi.
Việc quản lý nhà nước vốn thuộc phạm vi của bộ máy hành chính. Chức năng của hệ thống này là xây dựng chính sách, ban hành luật pháp và giám sát việc thực thi pháp luật.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quyền lực hành chính lại đi sâu vào các quyết định kinh tế cụ thể như phê duyệt dự án từ lớn đến nhỏ, giữu quyền cấp phép khai thác tài nguyên, giao đất hay phân bổ nguồn lực trong mọi trường hợp. Khi đó, quyền ký duyệt trở thành một quyền lực lớn, dễ dẫn đến tình trạng lợi ích cục bộ hoặc lợi dụng cơ chế xin-cho.
Ví dụ trong quản lý đất đai, khi quyền quyết định giao đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất phụ thuộc quá nhiều vào quyết định hành chính, nguy cơ phát sinh tiêu cực sẽ tăng lên. Điều này không chỉ gây thất thoát nguồn lực mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp công và tư.
Do đó, cản trở lớn nhất hiện nay chính là phương thức quản lý hành chính trong một nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường. Nếu vẫn duy trì cách quản lý hành chính truyền thống trong khi nền kinh tế đang chuyển sang vận hành theo nguyên tắc thị trường thì nhiều vấn đề khó được giải quyết triệt để.
Bên cạnh đó, việc quản lý vốn nhà nước cũng cần tuân thủ các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Khi giao vốn cho doanh nghiệp, Nhà nước cần đặt ra các tiêu chí rõ ràng về hiệu quả kinh doanh, năng suất và lợi nhuận. Nếu doanh nghiệp không đạt được các mục tiêu đã đề ra thì phải chịu cơ chế giám sát và trách nhiệm tương ứng. Điều này sẽ tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả, đồng thời hạn chế tình trạng bao cấp hoặc dựa dẫm vào ngân sách.
Ngoài yếu tố thể chế, yếu tố con người cũng đóng vai trò quan trọng. Những người được giao quản lý vốn nhà nước cần có năng lực chuyên môn cao, đồng thời phải bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc lựa chọn nhân sự cần dựa trên tiêu chí năng lực và hiệu quả công việc, thay vì chỉ dựa vào cơ chế hành chính.
Khi bộ máy quản lý hành chính tập trung vào xây dựng luật pháp và giám sát thị trường, còn cơ quan đại diện vốn hoạt động theo nguyên tắc đầu tư và quản trị hiện đại, hệ thống doanh nghiệp nhà nước sẽ có điều kiện phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nền kinh tế, đồng thời bảo đảm môi trường cạnh tranh minh bạch giữa các thành phần kinh tế.
- Thưa ông, trong mối quan hệ với khu vực kinh tế tư nhân và FDI, kinh tế nhà nước nên lựa chọn chiến lược nào để đóng vai trò "dẫn dắt": thông qua đầu tư vào lĩnh vực nền tảng, công nghệ lõi, hay thông qua tạo lập thể chế và hệ sinh thái?
PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Để thực hiện vai trò tiên phong, các doanh nghiệp nhà nước trước hết phải hướng tới những lĩnh vực công nghiệp hiện đại và có hàm lượng công nghệ cao. Đây là những ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian đầu tư dài và rủi ro cao - những yếu tố mà khu vực tư nhân đôi khi khó có thể đảm đương trong giai đoạn đầu. Vì vậy, kinh tế nhà nước có thể đóng vai trò mở đường bằng việc đầu tư vào các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng chiến lược, công nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, hay các ngành có ý nghĩa an ninh - quốc phòng.
Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở vốn đầu tư. Thực tế cho thấy, nhà nước có thể có lợi thế về nguồn lực tài chính, nhưng để phát triển các ngành công nghiệp hiện đại thì điều quan trọng hơn là con người và môi trường sáng tạo. Nếu doanh nghiệp nhà nước muốn đi tiên phong trong những lĩnh vực công nghệ mới, họ phải có cơ chế tuyển dụng và sử dụng nhân lực thật sự cởi mở, thu hút được những chuyên gia giỏi, kể cả từ khu vực tư nhân hoặc từ nước ngoài.
Trong thời gian qua, một số chính sách thu hút nhân tài được đưa ra, như trả lương cao hoặc tạo các ưu đãi đặc biệt, như Nghị quyết số 92/2026/NQ-HĐND ngày 27/01/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định về cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới...
Tuy nhiên, ưu đãi vật chất chưa đủ, quan trọng là tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp và sáng tạo, nơi các nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia có thể phát huy tối đa năng lực của mình. Những người có trình độ cao thường tìm kiếm cơ hội sáng tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ hơn là chỉ đơn thuần tìm kiếm thu nhập. Nếu không xây dựng được môi trường như vậy, việc thu hút nhân tài sẽ chỉ mang tính hình thức.
Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước không nhất thiết phải tham gia vào tất cả các lĩnh vực, với vai trò dẫn dắt có thể thực hiện bằng việc tạo lập thể chế, xây dựng hạ tầng và hình thành hệ sinh thái phát triển cho toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước phải hợp tác, liên kết với các thành phần khác, kể cả FDI để ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Tại nhiều quốc gia, ngay cả những lĩnh vực như công nghiệp quốc phòng hay công nghệ cao, không phải lúc nào doanh nghiệp nhà nước cũng giữ vai trò chủ đạo. Ở nhiều nước, các tập đoàn tư nhân vẫn tham gia sâu vào sản xuất vũ khí, chế tạo máy bay hay phát triển công nghệ mới. Nhà nước chỉ trực tiếp quản lý những lĩnh vực mang tính bí mật hoặc chiến lược đặc biệt, còn lại chủ yếu tạo khung thể chế và đặt hàng nghiên cứu, sản xuất.
Một nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, đều phải hoạt động theo luật pháp và cơ chế thị trường. Hiệu quả kinh tế cần trở thành thước đo cơ bản để đánh giá năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khi được giao nguồn lực lớn từ Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước càng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn.
Tóm lại, để thực hiện vai trò dẫn dắt theo tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW, kinh tế nhà nước cần kết hợp hai hướng tiếp cận. Một mặt, tập trung đầu tư vào những lĩnh vực nền tảng và công nghệ chiến lược mà khu vực tư nhân khó đảm nhận trong giai đoạn đầu. Mặt khác, quan trọng không kém là xây dựng thể chế minh bạch, môi trường cạnh tranh bình đẳng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Khi đó, kinh tế nhà nước không chỉ dẫn dắt bằng nguồn lực đầu tư, mà còn bằng khả năng tạo động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế.
Xây dựng đội ngũ nhân lực, lao động mới thích ứng với sự phát triển
- Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước có đòi hỏi phải thay đổi cơ chế đánh giá thành tích lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước theo hướng gắn chặt với chỉ số thị trường và trách nhiệm cá nhân không? Nếu có, cần thay đổi cụ thể ra sao thưa PGS?
PGS.TS Nguyễn Văn Nam: Muốn kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, tiên phong và định hướng trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, việc đánh giá thành tích lãnh đạo doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các tiêu chí hành chính hay quy trình nội bộ như trước đây, mà cần gắn chặt với hiệu quả thực chất hoạt động sản xuất - kinh doanh và đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế.
Tiêu chí quan trọng nhất phải là hiệu quả kinh tế. Một doanh nghiệp nhà nước được giao nguồn vốn lớn từ Nhà nước, được tạo điều kiện về cơ chế và thị trường thì kết quả hoạt động phải phản ánh rõ trong hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, đóng góp cho ngân sách và tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Người đứng đầu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trực tiếp về các chỉ số này. Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, tạo ra lợi nhuận và đóng góp tích cực cho nền kinh tế thì lãnh đạo xứng đáng được ghi nhận và hưởng chế độ đãi ngộ tương xứng; ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì cũng phải có cơ chế đánh giá xử lý trách nhiệm rõ ràng.
Bên cạnh đó, một tiêu chí không kém phần quan trọng là vai trò tiên phong trong khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo tinh thần của Nghị quyết 79-NQ/TW, kinh tế nhà nước không chỉ đơn thuần hoạt động kinh doanh mà còn phải đi đầu trong những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao, công nghiệp nền tảng, từ đó tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước cần tính đến mức độ đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, khả năng ứng dụng công nghệ mới, cũng như năng lực dẫn dắt các chuỗi giá trị trong những ngành quan trọng.
Một vấn đề cần thay đổi là cơ chế tiền lương và đãi ngộ. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn áp dụng cơ chế trả lương mang tính bình quân, cứng nhắc theo khung quy định chung. Điều này làm giảm động lực phấn đấu và khó thu hút nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần chuyển mạnh sang cơ chế trả lương theo hiệu quả kinh doanh và kết quả thị trường. Người làm tốt, tạo ra giá trị lớn cho doanh nghiệp phải được hưởng mức thu nhập cao hơn; ngược lại, những vị trí không hoàn thành nhiệm vụ phải được điều chỉnh hoặc thay thế.
Mục tiêu của cải cách không chỉ là tinh giản biên chế một cách cơ học mà sử dụng đúng người, đúng việc, đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ để nâng cao năng suất lao động. Khi công nghệ được áp dụng hiệu quả, bộ máy tự nhiên sẽ tinh gọn hơn và hoạt động hiệu quả hơn.
Do đó, cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị theo thị trường. Hiệu quả kinh tế, năng lực đổi mới công nghệ và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu phải trở thành những thước đo chủ yếu. Chỉ khi đó, kinh tế nhà nước mới có thể phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt và tạo động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế.
Tóm lại, tinh thần của Nghị quyết 79-NQ/TW không chỉ dừng lại ở việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, mà còn hướng tới một bước chuyển sâu sắc trong tư duy quản trị và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Khi khu vực kinh tế nhà nước vận hành theo các nguyên tắc minh bạch, cạnh tranh và gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả sử dụng vốn, nguồn lực công sẽ được phát huy đúng vai trò trong những ngành, lĩnh vực then chốt, đồng thời tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.
Những cải cách đó, nếu được triển khai nhất quán, sẽ góp phần hình thành một hệ sinh thái kinh tế năng động, nơi kinh tế nhà nước, tư nhân và đầu tư nước ngoài cùng phát triển hài hòa. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiến gần hơn tới khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 trở thành nước phát triển.
Ngô Hiển
Nguồn Công dân & Khuyến học : https://congdankhuyenhoc.vn/nghi-quyet-79-nq-tw-nang-cao-hieu-qua-kinh-te-nha-nuoc-trong-nen-kinh-te-thi-truong-179260530104737739.htm