Nghị quyết số 02-NQ/TW và bài toán 1.000 tiến sĩ: Đặt nền cho mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức

Nghị quyết số 02-NQ/TW và bài toán 1.000 tiến sĩ: Đặt nền cho mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức
2 giờ trướcBài gốc
Sinh viên Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội trong giờ thực hành. Ảnh: PV
Từ yêu cầu của Nghị quyết số 02-NQ/TW đến bài toán nguồn nhân lực tinh hoa
Nghị quyết số 02-NQ/TW đã xác định rõ một trong những trụ cột phát triển của Hà Nội trong kỷ nguyên mới là mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là định hướng mang tính chiến lược, mà còn là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Thủ đô đang đối mặt với nhiều thách thức về phát triển bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh.
Thực tiễn cho thấy, dù là trung tâm khoa học lớn nhất cả nước, Hà Nội vẫn tồn tại những “khoảng trống” đáng kể về nguồn nhân lực chất lượng cao. Thành phố hiện tập trung khoảng 70% tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu lớn, với hơn 60% nhà khoa học của cả nước sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, số lượng chuyên gia đầu ngành đạt trình độ quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược vẫn còn hạn chế; đội ngũ kế cận chưa đáp ứng yêu cầu; đặc biệt thiếu những nhà khoa học có khả năng đảm nhận vai trò “tổng công trình sư”, “kiến trúc sư trưởng” cho các chương trình phát triển lớn.
Khoảng cách này trở nên rõ nét hơn khi Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, với hàng loạt bài toán lớn cần giải quyết như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng đô thị, quản lý đất đai hay chuyển đổi số... Đây đều là những vấn đề phức tạp, đòi hỏi không chỉ tri thức chuyên sâu mà còn năng lực liên ngành và tư duy chiến lược.
Chính vì vậy, việc đào tạo đội ngũ nghiên cứu sinh tiến sĩ gắn với các bài toán lớn của Thủ đô đã được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trong Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 của Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy Hà Nội. Theo đó, mục tiêu đào tạo 1.000 tiến sĩ trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ nhằm tăng số lượng học vị, mà quan trọng hơn là hình thành nguồn nhân lực tinh hoa có khả năng trực tiếp tham gia giải quyết các điểm nghẽn phát triển .
Ở góc độ chính sách, đây là bước chuyển đáng chú ý: Từ “thu hút người đã có trình độ cao” sang “chủ động đào tạo nguồn nhân lực chiến lược”. Trước đây, các cơ chế của Hà Nội chủ yếu tập trung vào thu hút, trọng dụng nhân tài sau đào tạo, như Nghị quyết số 92/2026/NQ-HĐND. Tuy nhiên, chưa có chính sách riêng cho quá trình đào tạo nghiên cứu sinh. Điều này khiến nguồn cung nhân lực trình độ cao phụ thuộc vào các chương trình quốc gia hoặc đào tạo tự phát của từng cơ sở giáo dục.
Trong khi đó, chi phí đào tạo tiến sĩ tại Hà Nội tương đối cao, với học phí khoảng 30-40 triệu đồng/năm cùng chi phí sinh hoạt lớn, trong khi mức hỗ trợ hiện hành còn hạn chế . Đây là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ tuyển sinh tiến sĩ chỉ đạt khoảng 50-57% chỉ tiêu, nhiều ứng viên tiềm năng không theo đuổi con đường nghiên cứu hoặc lựa chọn học tập ở nước ngoài.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân tài ngày càng gay gắt, nếu không có chính sách đủ mạnh, Hà Nội sẽ khó giữ chân và phát triển đội ngũ trí thức trẻ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến mục tiêu đào tạo 1.000 tiến sĩ, mà còn tác động trực tiếp đến khả năng hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới mà Nghị quyết 02-NQ/TW đã đặt ra.
Nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Phenikaa. Ảnh: PV
Gắn đào tạo tiến sĩ với “bài toán lớn” - Hướng đi tạo đột phá
Điểm cốt lõi làm nên sự khác biệt của Chương trình đào tạo 1.000 tiến sĩ của Hà Nội là cách tiếp cận: Gắn đào tạo với các “bài toán lớn”, “điểm nghẽn lớn” của Thủ đô. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời khắc phục tình trạng đào tạo xa rời thực tiễn.
Theo định hướng này, nghiên cứu sinh không chỉ thực hiện các đề tài mang tính học thuật, mà phải tham gia trực tiếp vào các chương trình nghiên cứu do thành phố đặt hàng, có địa chỉ ứng dụng rõ ràng. Sản phẩm của quá trình đào tạo không dừng lại ở các công bố khoa học, mà phải là các giải pháp, công nghệ, thiết bị có khả năng triển khai trong thực tiễn.
Như đánh giá của GS.TS Lê Anh Tuấn - Bí thư Đảng ủy Đại học Bách khoa Hà Nội, việc gắn đào tạo tiến sĩ với các bài toán lớn sẽ tạo ra tác động sâu sắc đến chất lượng đào tạo, bởi định hướng nghiên cứu trở nên rõ ràng, gắn với nhu cầu thực tiễn và có khả năng lan tỏa cao. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các cơ sở giáo dục đại học thúc đẩy hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia giỏi tham gia hướng dẫn và nghiên cứu .
Tuy nhiên, để chương trình thực sự hiệu quả, cần một cơ chế triển khai đồng bộ và minh bạch. Một trong những đề xuất đáng chú ý là xây dựng quy trình quản lý trên nền tảng số, từ khâu nộp hồ sơ, xét duyệt, theo dõi tiến độ đến đánh giá kết quả. Cơ chế đánh giá cần dựa trên phản biện đồng cấp (peer review), đảm bảo khách quan, tránh cơ chế “xin - cho” .
Bên cạnh đó, vai trò của doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần được phát huy ngay từ đầu. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu, mà phải tham gia vào quá trình xây dựng đề tài, cung cấp dữ liệu, tạo điều kiện thử nghiệm và đồng hành trong triển khai. Đây chính là mô hình liên kết “ba nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) được kỳ vọng sẽ tạo ra hệ sinh thái nghiên cứu - đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh.
Một yếu tố quan trọng khác là đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu. Thành phố cần thúc đẩy hợp tác công - tư để xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nâng cấp phòng thí nghiệm, phát triển các trung tâm chế thử liên ngành. Đây sẽ là nền tảng để thu hút chuyên gia quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng chuyển giao công nghệ.
Không thể thiếu trong bài toán này là chính sách đãi ngộ và sử dụng sau đào tạo. Nếu không có cơ chế phù hợp để giữ chân và phát huy năng lực của đội ngũ tiến sĩ, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực tinh hoa sẽ khó đạt được. Việc tạo môi trường làm việc thuận lợi, trao quyền chủ trì các nhiệm vụ khoa học lớn và đảm bảo thu nhập cạnh tranh là những yếu tố then chốt.
Xét về dài hạn, đầu tư vào đào tạo tiến sĩ mang lại hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Mỗi tiến sĩ không chỉ là một cá nhân có trình độ cao, mà còn có thể trở thành hạt nhân dẫn dắt nghiên cứu, khởi nghiệp, đào tạo thế hệ kế cận và đóng góp vào giải quyết các vấn đề phát triển của Thủ đô và đất nước .
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030, Hà Nội cần thể hiện vai trò đầu tàu bằng cách đi trước trong đầu tư cho nguồn nhân lực chiến lược. Chương trình đào tạo 1.000 tiến sĩ, nếu được thiết kế và triển khai hiệu quả, sẽ không chỉ góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 02-NQ/TW mà còn tạo dựng một thế hệ nhà khoa học mới, những người có khả năng tạo ra tri thức, công nghệ và giải pháp cho tương lai.
Từ yêu cầu của Nghị quyết 02-NQ/TW đến thực tiễn phát triển của Thủ đô, có thể thấy rõ: Đào tạo 1.000 tiến sĩ không đơn thuần là bài toán số lượng, mà là bước đi chiến lược nhằm hình thành “động cơ tri thức”, nền tảng tạo ra và chuyển hóa tri thức thành động lực tăng trưởng mới cho Hà Nội.
Khi tri thức, khoa học công nghệ và con người trở thành trung tâm của mô hình tăng trưởng, thì đầu tư cho nguồn nhân lực tinh hoa chính là đầu tư cho tương lai bền vững và năng lực cạnh tranh của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Thu Hằng
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/nghi-quyet-so-02-nq-tw-va-bai-toan-1-000-tien-si-dat-nen-cho-mo-hinh-tang-truong-dua-vao-tri-thuc-741338.html