Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII: Bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế

Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII: Bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế
3 giờ trướcBài gốc
Tổng Bí thư Tô Lâm tham quan Triển lãm ảnh 80 năm thành tựu ngành ngoại giao tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành ngoại giao (28-8-1945 - 28-8-2025)
Trên nền tảng chủ trương lớn được xác lập trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, ngày 24-1-2025, Nghị quyết số 59-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” đã được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Nền tảng tư duy lý luận về đối ngoại và hội nhập quốc tế
Tư duy của Đảng ta về đối ngoại và hội nhập quốc tế được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát huy giá trị tinh hoa của dân tộc, đồng thời tiếp thu chọn lọc thành tựu văn minh nhân loại. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dựng nước và giữ nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại với tinh hoa văn hóa nhân loại, kinh nghiệm và lý luận hiện đại về hội nhập quốc tế. Nhờ đó, đường lối đối ngoại của Đảng luôn bảo đảm tính nhất quán, hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.
Trên thế giới, tư tưởng về hợp tác và gắn kết giữa các quốc gia xuất hiện từ rất sớm. Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, yêu cầu về hòa bình, an ninh và ổn định đã thúc đẩy sự ra đời của Hội Quốc liên vào năm 1919. Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhu cầu tái thiết toàn diện đặt ra đòi hỏi đẩy mạnh hợp tác kinh tế, tạo nền tảng cho chương trình phục hồi châu Âu. Giai đoạn 1945 - 1949 chứng kiến sự hình thành hệ thống Brét-tơn Út, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), đặt nền móng cho sự kết nối thương mại toàn cầu.
Sự kiện 51 quốc gia ký kết và thông qua Hiến chương Liên hợp quốc vào ngày 26-6-1945 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử hợp tác quốc tế, mở ra khuôn khổ hội nhập rộng lớn và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Từ cuối thế kỷ XX, cùng với việc Chiến tranh lạnh kết thúc, sự lan tỏa mạnh mẽ của toàn cầu hóa trong thương mại, tài chính và bứt phá của khoa học - công nghệ đã thúc đẩy tiến trình liên kết kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Chuyển động đó hình thành mạng lưới gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia, góp phần tạo nên nhận thức chung về hội nhập quốc tế như một xu thế tất yếu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Tại Việt Nam, ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân ta với phong trào đấu tranh của các dân tộc tiến bộ trên thế giới; xác định “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”. Sau khi giành chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sớm thể hiện tư tưởng hội nhập quốc tế. Ngày 17-10-1945, trong Điện văn gửi Tổng thống Mỹ H. Tru-man, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ “mong muốn tha thiết - mà Việt Nam cảm nhận sâu sắc và đã chứng tỏ một cách nhất trí - được hợp tác với những nền dân chủ khác trong việc tạo lập và củng cố nền hòa bình và phồn vinh trên thế giới”(1).
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, mặc dù là một nền kinh tế nhỏ, xuất phát điểm thấp và phải tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ trong điều kiện bị bao vây, cấm vận, Việt Nam vẫn chủ động thúc đẩy hội nhập quốc tế. Nhà nước ta từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao để tranh thủ sự công nhận của cộng đồng quốc tế; nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quan trọng của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế; đồng thời, nỗ lực đóng góp vào phong trào đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Việt Nam bắt đầu tham gia một số liên kết quốc tế, đặt nền móng ban đầu cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng sau này.
Đại hội VI (năm 1986) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng. Mặc dù khái niệm “hội nhập quốc tế” chưa được nêu trực tiếp, Đảng ta đã khẳng định yêu cầu “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”.Quan điểm này cho thấy, trên cơ sở bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận về hội nhập quốc tế, phù hợp với bối cảnh mới của tình hình khu vực, thế giới và yêu cầu phát triển, bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc gia, Đảng ta không còn tiếp cận thế giới chủ yếu theo mô hình đối lập “hai phe”, “bốn mâu thuẫn”, “ba dòng thác cách mạng” hay theo cách phân tuyến “bạn - thù” đơn giản. Thay vào đó, tư duy đối ngoại bắt đầu mở rộng theo hướng hợp tác, đặt nền tảng cho định hướng “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Khái niệm “hội nhập” được đề cập chính thức lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), với trọng tâm đặt vào nhiệm vụ hội nhập kinh tế. Trong giai đoạn 2001 - 2010, từ Đại hội IX đến Đại hội X của Đảng, định hướng này tiếp tục được khẳng định, xác định hội nhập kinh tế là trụ cột chủ yếu của tiến trình hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27-11-2001, “Về hội nhập kinh tế quốc tế”, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước mở rộng và tham gia sâu hơn vào các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”. Các Đại hội XI (năm 2011), Đại hội XII (năm 2016) và Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục phát triển tư duy đối ngoại theo hướng toàn diện, phù hợp với bối cảnh mới và yêu cầu phát triển của đất nước. Trên nền tảng đó, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về hội nhập quốc tế, trong đó có Nghị quyết số 22-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế”.Sau hơn 10 năm triển khai, trước chuyển biến nhanh của tình hình thế giới và nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” đã được ban hành, đánh dấu bước phát triển tiếp theo trong tư duy của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế là cơ sở quan trọng bảo đảm cho công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai hiệu quả, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước. Kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, cùng đường lối đổi mới và chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ: từ một quốc gia nghèo, lạc hậu trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986; thuộc nhóm 20 nước có quy mô thương mại hàng đầu; nằm trong tốp 20 quốc gia thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn và tốp 10 nước có lượng kiều hối cao nhất thế giới(2). Hiện nay, mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở với 194 quốc gia đã thiết lập quan hệ ngoại giao và khuôn khổ quan hệ từ đối tác toàn diện trở lên với 42 nước tiếp tục tạo xung lực quan trọng giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng, chất lượng cao trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và đời sống quốc tế.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường trao quyết định bổ nhiệm 16 đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại các nước nhiệm kỳ 2025 - 2028
Quyết sách đột phá trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước
Nghị quyết số 59-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, với nhiều yếu tố chưa từng có tiền lệ. Thách thức, rủi ro đan xen cùng thuận lợi, thời cơ trên hầu hết lĩnh vực, song khó khăn có xu hướng nổi trội hơn, đặc biệt là đối với quốc gia quy mô vừa và nhỏ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 được dự báo là thời điểm then chốt trong quá trình định hình trật tự thế giới mới, khi mức độ bất định, bất ổn và rủi ro gia tăng mạnh. Tình hình đó đặt ra cho Việt Nam một loạt thách thức lớn.
Thứ nhất, cán cân sức mạnh giữa các nước lớn trên thế giới, trong các liên kết quốc tế lớn tiếp tục dịch chuyển mạnh, thúc đẩy cục diện thế giới chuyển sang trạng thái đa cực, đa trung tâm rõ nét hơn.
Thứ hai, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng chịu tác động và thách thức ngày càng lớn từ cạnh tranh chiến lược, bất ổn gia tăng.
Thứ ba, các cuộc khủng hoảng có khả năng xuất hiện thường xuyên hơn, với phạm vi ảnh hưởng rộng và tính chất đan xen, đồng thời gắn liền với các vấn đề an ninh phi truyền thống, như thiên tai, dịch bệnh, nghèo đói và bất bình đẳng.
Thứ tư, kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục duy trì tăng trưởng, song tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là từ cạnh tranh thương mại, biến động tài chính và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ năm, sự phát triển mạnh của khoa học - công nghệ cùng quá trình chuyển đổi sang kinh tế số, kinh tế xanh mang lại nhiều cơ hội mới, nhưng cũng đòi hỏi quốc gia nắm bắt kịp thời để tránh tụt hậu, đồng thời giải quyết tốt vấn đề xã hội phát sinh.
Thứ sáu, khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương tiếp tục là động lực tăng trưởng năng động, là thị trường hấp dẫn đối với nhà đầu tư và là tâm điểm của liên kết kinh tế mới, song cũng là khu vực diễn ra cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn.
Giai đoạn từ nay tới năm 2030 cũng là thời kỳ quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt hai mục tiêu chiến lược vào năm 2030 và năm 2045. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, yêu cầu phát triển mạnh mẽ đất nước, đòi hỏi có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập
quốc tế.
Nghị quyết số 59-NQ/TW ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược, toàn diện và định hướng của Đảng về thế giới và thời cuộc, tạo cơ sở phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, trọng yếu và thường xuyên của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Trên nền tảng đó, Việt Nam có điều kiện chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức và thúc đẩy phát triển trong giai đoạn hiện nay. Từ tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW, bước phát triển mới trong tư duy của Đảng thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là, bổ sung nhiều nội dung mới và định hướng mang tính đột phá, nhằm đáp ứng xu thế lớn của tình hình thế giới hiện nay và yêu cầu phát triển của đất nước. Điểm nhấn quan trọng nhất là việc nâng tầm và đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, đặt ngang tầm với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng và an ninh trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.
Theo tinh thần đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới phải phục vụ hiệu quả lợi ích chiến lược về an ninh, phát triển và ảnh hưởng, thông qua ba mũi nhọn chủ công. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại giữ vai trò nền tảng trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, củng cố vai trò lãnh đạo, quản lý và nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và Nhà nước. Ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội, hiện thực hóa các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045, tạo nền tảng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Ngoại giao văn hóa, đối ngoại đa phương và lĩnh vực công tác đối ngoại khác tiếp tục góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hai là,quán triệt yêu cầu triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế một cách đồng bộ, chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Hoạt động đối ngoại cần được triển khai trên tất cả mặt trận, với sự tham gia đồng bộ của các trụ cột của nền ngoại giao, “binh chủng” ngoại giao: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, đối ngoại đa phương, đối ngoại địa phương cùng lĩnh vực công tác liên quan, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc gia. Lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế phải được gắn kết chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới kết quả thiết thực và lâu dài cho đất nước.
Ba là, xác định hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đòi hỏi Việt Nam thể hiện tinh thần của một “đối tác tích cực, có trách nhiệm”. Điều này không dừng lại ở việc tham gia hay hưởng lợi từ cơ chế hợp tác, mà còn yêu cầu chủ động đóng góp bằng sáng kiến và giải pháp thực chất, thực hiện nghiêm túc cam kết quốc tế để củng cố hình ảnh một đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Trên nền tảng đó, tư duy hội nhập phải chuyển mạnh từ “gia nhập, tham gia” sang “xây dựng, định hình”, sẵn sàng đảm nhận vai trò “nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hòa giải” trong các vấn đề phù hợp với năng lực và lợi ích quốc gia - dân tộc. Việt Nam cần chủ động đóng góp trí tuệ và nguồn lực vào hoạt động gìn giữ hòa bình, thúc đẩy hợp tác và phát triển quốc tế. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, phản ánh sự trưởng thành về vị thế và tầm vóc của Việt Nam sau nhiều thập niên hội nhập quốc tế sâu rộng.
Bốn là, việc xây dựng, ban hành Nghị quyết thể hiện tinh thần kế thừa và phát triển linh hoạt, sáng tạo giá trị cốt lõi của đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, phù hợp với tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn mới. Theo tinh thần của Nghị quyết, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, cùng sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp được xác định là trung tâm, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng trực tiếp thành quả của quá trình hội nhập quốc tế. Đây là định hướng quan trọng nhằm bảo đảm hội nhập mang lại lợi ích thiết thực, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Năm là, nhấn mạnh yêu cầu hội nhập quốc tế được xây dựng trên cơ sở phát huy nội lực giữ vai trò quyết định, đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Việc kết hợp hài hòa giữa nội lực và ngoại lực nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm hạnh phúc của nhân dân. Từ tinh thần của Nghị quyết, cần tiếp tục thực hiện tốt việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia; nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Đây là định hướng quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các đại sứ, đại biện, trưởng đại biện, trưởng các cơ quan, tổ chức quốc tế được tham quan, tìm hiểu văn hóa dân tộc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam _Ảnh: TTXVN
Tổ chức triển khai hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW, tạo bước chuyển quan trọng, toàn diện trong tiến trình hội nhập quốc tế trong tình hình mới
Cùng với các nghị quyết mang tính chiến lược và đột phá được Bộ Chính trị ban hành trong thời gian qua, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” mở ra không gian và điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Hiện nay, vấn đề trọng tâm là tổ chức triển khai hiệu quả, bảo đảm sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị; sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp và sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, nhằm phát huy hiệu quả tổng hợp và tạo chuyển biến thực chất. Trên tinh thần đó, một số phương hướng lớn để đẩy mạnh triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW cần được quan tâm là:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, tập trung triển khai quyết liệt và hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp đã được giao. Tiếp tục bám sát tinh thần, quán triệt sâu sắc và bảo đảm thống nhất trong nhận thức, hành động đối với các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước về đối ngoại, quốc phòng và an ninh, như Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia”; Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, “Về một số định hướng, chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội XIII”; Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Kết luận số 53-KL/TW ngày 28-4-2023, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030”; Kết luận số 82-KL/TW, ngày 7-6-2024, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại Công an nhân dân đến năm 2030”…
Thứ hai, xác định rõ hội nhập quốc tế là động lực chiến lược trên cơ sở nội lực giữ vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với tranh thủ ngoại lực, gắn kết chặt chẽ hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Bảo đảm các nguyên tắc về tâm thế, vị thế mới, tư duy và cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế, chuyển từ tư duy tiếp nhận sang tư duy đóng góp, từ hội nhập chung sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào lĩnh vực mới. Phát huy khả năng dẫn dắt thông qua ý tưởng và sáng kiến chiến lược, đồng thời chủ động tham gia vào xây dựng và định hình chuẩn mực, quy tắc của quan hệ quốc tế. Tăng cường đóng góp tại các cơ chế đa phương, như ASEAN, Liên hợp quốc, hợp tác Tiểu vùng Mê Công, đặc biệt ở vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh, phát triển bền vững và quản trị toàn cầu. Chủ động tham gia ngay từ đầu các khuôn khổ hợp tác mới, nhất là về công nghệ và lĩnh vực mới nổi, nhằm bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và củng cố vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình “luật chơi”.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện và sâu rộng. Các lĩnh vực hội nhập cần được gắn kết chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau trong một chiến lược tổng thể, với lộ trình và bước đi phù hợp. Trong đó, nhiệm vụ đối ngoại phục vụ phát triển phải được đặt ở vị trí trung tâm, lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm phục vụ. Khai thác tối ưu kết quả nâng cấp và mở rộng quan hệ đối ngoại thời gian qua, tận dụng cục diện đối ngoại thuận lợi để thu hút nguồn lực đột phá cho phát triển, nhất là trong các lĩnh vực ưu tiên, như hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, khoa học - công nghệ. Tăng cường nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về đổi mới mô hình tăng trưởng, vượt “bẫy thu nhập trung bình”, phát triển bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò của công tác đối ngoại trong kết nối, tháo gỡ vướng mắc khi triển khai cam kết quốc tế, thúc đẩy văn hóa thực thi và nâng cao tính thực chất của hợp tác. Chủ động nhận diện và hóa giải “từ sớm, từ xa” nguy cơ liên quan tới an ninh kinh tế, tài chính - tiền tệ, môi trường, con người, chuỗi cung ứng…
Thứ tư, phát huy vai trò trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại và hội nhập quốc tế trong bảo vệ Tổ quốc, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng - an ninh và lực lượng làm công tác đối ngoại khác để duy trì môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao giá trị chiến lược của đất nước. Làm sâu sắc hơn mối quan hệ biện chứng giữa an ninh và phát triển; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Hội nhập quốc tế có chiều sâu, chất lượng cao phải góp phần thúc đẩy cải cách thể chế, đổi mới mô hình phát triển theo hướng bền vững, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Phát huy hiệu quả nội lực thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam càng có điều kiện đóng góp thực chất hơn vào đời sống chính trị, kinh tế và tri thức của thế giới.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ làm công tác đối ngoại, là nhiệm vụ then chốt. Lực lượng làm công tác đối ngoại cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng và tư duy hiện đại, ngang tầm khu vực và quốc tế. Cán bộ đối ngoại thời kỳ mới phải am hiểu luật pháp quốc tế, văn hóa, lịch sử, xã hội của đối tác; giỏi phân tích, đàm phán, xử lý tình huống, đồng thời có khả năng sáng tạo và đổi mới. Việc Quốc hội khóa XV xem xét thông qua nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù để nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế sẽ tạo thêm nguồn lực và động lực quan trọng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát huy năng lực đội ngũ cán bộ đối ngoại.
Tựu trung, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị cùng với những định hướng về hội nhập quốc tế dự kiến trình Đại hội XIV của Đảng đã mở ra tầm nhìn mới, toàn diện và hiện đại về tư duy hội nhập quốc tế; thiết lập khuôn khổ lý luận và định hướng thực tiễn rõ ràng để đối ngoại trở thành trụ cột quan trọng, động lực chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Định hướng và nhiệm vụ lớn mà Nghị quyết số 59-NQ/TW đề ra đòi hỏi toàn hệ thống chính trị đổi mới tư duy, nâng cao năng lực triển khai và phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, bản lĩnh và trách nhiệm trong công tác đối ngoại. Với quyết tâm chính trị cao, sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành và địa phương, cùng sự đồng thuận của nhân dân, việc triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW sẽ tạo ra bước chuyển quan trọng, toàn diện trong tiến trình hội nhập quốc tế; đưa đất nước tiến nhanh, vững chắc trên con đường phát triển; nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI./.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 60
(2) Xem: “Kinh tế Việt Nam - một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới”, Vietnam+, ngày 30-4-2025, https://www.vietnamplus.vn/kinh-te-viet-nam-mot-trong-32-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-post1035945.vnp
(*) TS Nguyễn Minh Vũ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao
TS Nguyễn Minh Vũ (*)
Nguồn Lâm Đồng : https://baolamdong.vn/nghi-quyet-so-59-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-khoa-xiii-buoc-phat-trien-moi-trong-tu-duy-cua-dang-ve-doi-ngoai-va-hoi-nhap-quoc-te-419424.html