Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng
Nghị quyết số 59-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, các chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ. Trên nền tảng đó, Bộ Chính trị xác định hội nhập quốc tế không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là động lực chiến lược để phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn chặt với mục tiêu tự chủ, tự cường và nâng cao năng lực nội sinh.
Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là chuyển từ tư duy hội nhập “tham gia”, “thích ứng”, sang tư duy chủ động đóng góp, tham gia định hình luật chơi, tận dụng tối đa các cơ hội từ hợp tác quốc tế, đồng thời xử lý hiệu quả các thách thức từ bên ngoài, trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây cũng là lần đầu tiên hội nhập quốc tế được đặt trong tổng thể các đột phá chiến lược, gắn chặt với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển khoa học - công nghệ. Chính tư duy này đã tạo ra sự chuyển biến đồng bộ trong toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam ngay trong năm đầu tiên triển khai Nghị quyết.
Các vị đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Diễn đàn Tương lai ASEAN 2025 tổ chức tại Hà Nội. Ảnh: Đức Thanh
Một trong những điểm sáng nổi bật nhất sau một năm thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW là ngoại giao kinh tế được triển khai quyết liệt, bài bản và gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển đất nước. Ngoại giao kinh tế không chỉ dừng ở xúc tiến thương mại, đầu tư, mà ngày càng trở thành công cụ chiến lược để mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Năm 2025, trong bối cảnh thương mại và đầu tư toàn cầu gặp nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và mở rộng thị trường. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 930 tỷ USD, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Ngoại giao kinh tế đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững và mở rộng mạng lưới đối tác kinh tế chiến lược, thúc đẩy thực thi hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời mở ra các không gian hợp tác mới trong những lĩnh vực đang định hình tương lai kinh tế toàn cầu như chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn. Các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao trong năm 2025 đều gắn với những thỏa thuận hợp tác cụ thể về đầu tư, hạ tầng, năng lượng, tài chính, logistics và công nghệ cao, qua đó biến cam kết chính trị thành lợi ích kinh tế thiết thực
Ngoại giao khoa học - công nghệ mở không gian tăng trưởng mới
Một điểm nhấn mới và rất đáng chú ý trong năm đầu thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW là sự nổi lên của ngoại giao khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo như một trụ cột quan trọng của hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Trong bối cảnh khoa học - công nghệ trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam đã chủ động thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ nguồn, công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Ngoại giao khoa học - công nghệ không chỉ dừng ở trao đổi học thuật, mà từng bước gắn với mục tiêu tiếp nhận tri thức, chuyển giao công nghệ, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước.
Hội nhập vì con người - điểm tựa của niềm tin xã hội
Một trong những thước đo quan trọng của hiệu quả hội nhập là lợi ích thiết thực đối với người dân. Năm 2025, công tác bảo hộ công dân được triển khai kịp thời, hiệu quả tại nhiều điểm nóng trên thế giới. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều tiến bộ, khơi dậy tinh thần hướng về quê hương, với lượng kiều hối đạt mức kỷ lục trên 16 tỷ USD, trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước.
Việc ký kết và triển khai nhiều khuôn khổ hợp tác về khoa học - công nghệ với các đối tác lớn đã góp phần mở ra những không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Các trung tâm đổi mới sáng tạo, các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) có yếu tố nước ngoài ngày càng hiện diện rõ nét tại Việt Nam, tạo nền tảng để nâng cao năng lực nội sinh, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Ngoại giao khoa học - công nghệ cũng gắn chặt với chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế tham gia đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước. Đây là bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nâng tầm vị thế đối ngoại, gia tăng sức mạnh mềm của Việt Nam
Sau một năm triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW, vai trò và vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương tiếp tục được củng cố và nâng cao. Trong bối cảnh chủ nghĩa đa phương gặp nhiều thách thức, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định và thực chất hơn.
Hiện tại, Việt Nam đã có khuôn khổ quan hệ từ Đối tác toàn diện trở lên với 42 đối tác, trong đó có toàn bộ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 17 thành viên G20. Việt Nam không chỉ là đối tác tin cậy, mà còn được nhìn nhận là thành viên có trách nhiệm, có tiếng nói xây dựng trong cộng đồng quốc tế.
Việt Nam không chỉ tham gia, mà ngày càng chủ động đóng góp sáng kiến, tham gia các cơ chế điều hành và xây dựng luật chơi quốc tế, nhất là trong khuôn khổ ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và các diễn đàn hợp tác tiểu vùng. Việc tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn tại Việt Nam trong năm 2025 như Diễn đàn Tương lai ASEAN, Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Đối tác vì tăng trưởng xanh và mục tiêu toàn cầu 2030 (P4G) lần thứ 4, Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng… đã khẳng định năng lực điều phối, uy tín và vai trò ngày càng nổi bật của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Thông qua đối ngoại đa phương, Việt Nam đã tranh thủ hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đồng thời góp phần thúc đẩy hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững, củng cố hình ảnh một Việt Nam trách nhiệm, tin cậy và chủ động hội nhập.
Cùng với ngoại giao chính trị và kinh tế, ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia. Hình ảnh Việt Nam là một đất nước ổn định, năng động, hội nhập sâu rộng, tôn trọng luật pháp quốc tế và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế ngày càng được lan tỏa mạnh mẽ.
Thực hiện Nghị quyết số 59/NQ-TW, nhiều văn bản pháp lý quan trọng đã được hoàn thiện, tạo hành lang thể chế đồng bộ, thông thoáng cho hội nhập quốc tế, từ Luật Điều ước quốc tế sửa đổi, Luật Quốc tịch sửa đổi đến các nghị quyết đặc thù của Quốc hội về nâng cao hiệu quả hội nhập.
Những kết quả bước đầu trong triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW cho thấy hướng đi đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc định hình con đường hội nhập quốc tế của Việt Nam ở giai đoạn mới. Hội nhập ngày càng đi vào chiều sâu, gắn chặt với phát triển nội lực, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Thảo Miên