Giá trị làng xã Hà Nội trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TƯ
Hà Nội hôm nay với 126 xã, phường, khoảng hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề phố - một cấu trúc quần cư đặc biệt hiếm có. Từ vùng “trong sông” đến thành phố trải dài hai bên bờ sông Hồng, từ Hà Đông đến xứ Đoài, từ Ba Vì đến cửa ngõ phía Bắc, mỗi làng là một “thiết chế văn hóa” hoàn chỉnh với đình, chùa, miếu, giếng, ao, cổng làng, cây đa, đường làng, ngõ xóm…, tạo nên chỉnh thể kiến trúc - cảnh quan - sinh thái - xã hội đặc sắc.
Xã Bình Minh gắn với hệ thống di sản, làng nghề truyền thống, động lực phát triển công nghiệp văn hóa. Ảnh: Đỗ Phong
Tuy nhiên, như tài liệu nghiên cứu chỉ ra, làng xã nội đô Hà Nội đang chịu sự biến dạng mạnh mẽ bởi quá trình đô thị hóa tự phát, gia tăng dân số cơ học, phân chia đất ở manh mún, hạ tầng kỹ thuật quá tải, không gian công cộng bị thu hẹp.
Nhiều làng đã chuyển từ cấu trúc nông thôn khép kín sang những khu dân cư nửa đô thị, nửa làng, thiếu đồng bộ và tiềm ẩn rủi ro xã hội.
Nhiều làng, xã chỉ giữ lại đình, chùa mà không bảo tồn cấu trúc tổng thể, từ không gian mở, mặt nước, hạ tầng xanh đến tổ chức quần cư là bài học đắt giá. Di sản không chỉ là công trình đơn lẻ, mà là hệ sinh thái văn hóa.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TƯ xuất hiện như một “quyết sách đột phá mang tính chiến lược”.
Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, Nghị quyết lần này không chỉ xác định phương hướng chung, mà đưa ra chỉ tiêu cụ thể, định lượng rõ ràng cho từng lĩnh vực văn hóa.
Đáng chú ý, Nghị quyết xác định: Công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, phấn đấu 9% vào năm 2045, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, tăng dần theo yêu cầu thực tiễn (trong khi trước đây mục tiêu 1,8% hầu như chưa đạt, năm cao nhất mới trên 1,7%)...
Làng nghề gỗ Vân Hà, xã Thư Lâm đang chuyển mình mạnh mẽ, gắn với phát triển du lịch văn hóa, làng nghề. Ảnh: Thư Lâm
Đặt trong không gian Hà Nội - nơi làng xã là nền tảng cấu trúc văn hóa, những chỉ tiêu này mở ra cơ hội lớn để tái thiết hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, quy hoạch bảo tồn tổng thể làng cổ, đầu tư hạ tầng xanh, khôi phục không gian công cộng truyền thống.
Quan trọng hơn, Nghị quyết số 80-NQ/TƯ kế thừa và phát triển sâu sắc quan điểm: Xây dựng con người là trung tâm, cốt lõi. Văn hóa không phải “sân chơi”, không chỉ là hoạt động nghiệp vụ, mà phải hướng tới hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Với làng xã Hà Nội, điều đó đồng nghĩa: Bảo tồn không chỉ để giữ hình hài kiến trúc, mà để duy trì môi trường nuôi dưỡng hệ giá trị gia đình, dòng họ, cộng đồng, chuẩn mực ứng xử.
Khi Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, thì làng xã chính là “địa bàn thực hành” trực tiếp và sinh động nhất.
Từ di sản sinh kế đến động lực công nghiệp văn hóa
Hà Nội không chỉ là thành phố của di tích, mà còn là Thủ đô của làng nghề. Từ gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mộc Sơn Đồng, quạt Chàng Sơn, sơn mài Hạ Thái… đến hàng trăm làng nghề truyền thống khác, mỗi làng nghề là một “trường học văn hóa” và một “xưởng sáng tạo” lâu đời.
Trong bối cảnh mới, Nghị quyết 80 nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu “hiện đại” - từ công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa, thiết chế văn hóa đến không gian sáng tạo nội dung số. Từ “hiện đại” xuất hiện tới 10 lần trong văn bản Nghị quyết, cho thấy khát vọng đưa văn hóa Việt Nam vươn lên ngang tầm khu vực và quốc tế.
Làng nghề sơn mài Hạ Thái, xã Hồng Vân gắn với chuỗi du lịch làng nghề. Ảnh Đỗ Phong
Với làng nghề Hà Nội, điều này mở ra nhiều hướng đi chiến lược. Theo đó, Nghị quyết số 80-NQ/TƯ sẽ tái định vị làng nghề như một cấu phần của công nghiệp văn hóa.
Không chỉ sản xuất hàng thủ công truyền thống, làng nghề cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sáng tạo: Thiết kế, thương hiệu, du lịch văn hóa, thương mại điện tử, trải nghiệm số.
Khi mục tiêu 7% GDP từ công nghiệp văn hóa được đặt ra, Hà Nội với mật độ làng nghề cao có điều kiện trở thành trung tâm thử nghiệm mô hình này.
Bên cạnh đó, làng nghề cũng sẽ được đầu tư hạ tầng văn hóa và hạ tầng xanh gắn với quy hoạch bảo tồn. Nghị quyết số 80-NQ/TƯ yêu cầu “tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực”. Ở tầm cơ sở, điều đó phải được cụ thể hóa bằng quy hoạch chi tiết làng nội đô, phân loại làng đã đô thị hóa đậm đặc và làng đang đô thị hóa để có cách ứng xử phù hợp.
Với làng đang đô thị hóa, cần lồng ghép quy hoạch xây dựng với quy hoạch bảo tồn tổng thể, bảo vệ quỹ đất công, mặt nước, cây xanh; tạo vùng đệm phát triển dịch vụ công cộng và chuyển đổi nghề. Với làng đã đô thị hóa đậm đặc, cần tập trung cải tạo hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt giao thông, phòng cháy chữa cháy, không gian mở tối thiểu.
Làng nghề may cờ Tổ quốc Từ Vân, xã Chương Dương nổi tiếng cả nước. Ảnh: Đỗ Phong
Đặc biệt, với định hướng mới, các làng nghề có điều kiện giải phóng sức sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Nghị quyết dành phần quan trọng cho xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và mạng lưới chuyên gia.
Với Hà Nội, đây là điều kiện để hình thành đội ngũ “nghệ nhân - doanh nhân - nhà thiết kế” mới trong làng nghề; kết nối tri thức truyền thống với công nghệ số, kinh tế sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Theo các chuyên gia quy hoạch văn hóa nhận định, nếu trước đây làng nghề chủ yếu dựa vào lợi thế “tay nghề cha truyền con nối”, thì nay phải dựa thêm vào năng lực quản trị, thiết kế sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, bảo hộ sở hữu trí tuệ và thương hiệu quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TƯ tạo khung chính sách để điều đó trở thành hiện thực.
Có thể thấy, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 80-NQ/TƯ là xử lý hài hòa các quan hệ nội tại của văn hóa: Truyền thống - hiện đại, dân tộc - quốc tế, bảo tồn - phát triển.
Với Hà Nội, đây không phải khẩu hiệu mà là bài toán sống còn. Nếu không có quy hoạch chiến lược, làng xã tiếp tục phát triển thiếu kiểm soát, hạ tầng quá tải, không gian văn hóa co hẹp, giá trị truyền thống bị “đóng khung” trong vài di tích đơn lẻ.
Nếu bảo tồn theo lối cứng nhắc, không tính đến sinh kế và chuyển đổi nghề nghiệp, làng nghề sẽ mất sức sống. Nghị quyết số 80-NQ/TƯ, với yêu cầu tối thiểu 2% ngân sách cho văn hóa và tăng dần theo thực tiễn, cho phép Hà Nội có cơ sở mạnh mẽ để ưu tiên nguồn lực cho bảo tồn tổng thể làng cổ tiêu biểu, nhân rộng mô hình; đồng thời xã hội hóa đầu tư, huy động cộng đồng và doanh nghiệp tham gia.
Làng nghề truyền thống giò cả Ước Lễ, xã Dân Hòa được khơi dậy với không gian văn hóa mới, gắn kết du lịch trải nghiệm. Ảnh: Đỗ Phong
Quan trọng hơn, Nghị quyết khẳng định, phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Bảo tồn làng xã, phát triển làng nghề không thể chỉ là việc của ngành văn hóa hay xây dựng, đó là nhiệm vụ liên ngành, từ quy hoạch, đất đai, tài chính đến giáo dục, khoa học công nghệ.
Trong tầm nhìn “Văn hiến - văn minh - hiện đại”, Hà Nội không thể trở thành một đô thị toàn cao tầng bê tông, tách rời ký ức và cấu trúc làng xã. Chính mạng lưới 1.350 làng với lịch sử hàng nghìn năm là nền móng để Thủ đô phát triển khác biệt và bền vững. Khi đó, làng xã Hà Nội không chỉ là “dấu tích quá khứ”, mà trở thành không gian sáng tạo của hiện tại và động lực phát triển của tương lai.
Đỗ Minh