Tại các đại dự án đang giải phóng mặt bằng thần tốc trên khắp địa bàn Hà Nội như dự án cầu Tứ Liên, cầu Trần Hưng Đạo (phường Hồng Hà), việc tháo dỡ nhà cửa của các hộ dân diễn ra rất nhanh chóng sau khi có các quyết định liên quan, bởi "đi cùng" họ là dịch vụ phá dỡ nhà chuyên nghiệp. Anh Nguyễn Anh Dũng (phố Vạn Kiến, phường Hồng Hà) cho biết, thay vì bỏ tiền phá dỡ căn nhà 5 tầng thì anh giao khoán cho một đơn vị chuyên phá dỡ với giá trọn gói 35 triệu đồng. "Sau khi gia đình dọn dẹp đồ đạc, đơn vị này sẽ vào phá dỡ miễn phí, sau đó họ tận thu lại sắt thép. Việc này giúp gia đình đỡ một khâu phá dỡ, rất tiện lợi và nhanh gọn", anh Dũng nói.
Các đơn vị phá dỡ này là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, có mặt ở mỗi điểm phá dỡ, họ thường định giá "xác nhà" rất nhanh và đưa ra giá để thỏa thuận với chủ nhà. Việc này được lợi cả đôi bên khi chủ nhà không mất tiền phá dỡ, còn bên phá dỡ lại được khoản tiền từ tận thu phế liệu.
Tuy nhiên, đối với phá dỡ các trụ sở, công trình công thì mọi việc hoàn toàn khác. Tiêu biểu là trường hợp phá dỡ tòa nhà "Hàm cá mập" - biểu tượng ngay sát hồ Hoàn Kiếm, từng có 4 doanh nghiệp đề xuất phá dỡ tòa nhà này với chi phí 0 đồng nhưng không được Sở Tài chính và thành phố Hà Nội chấp thuận. Cuối cùng Hà Nội vẫn phải bỏ ra hơn 10 tỷ đồng để phá dỡ công trình này.
Từng có 4 doanh nghiệp xin phá dỡ "Hàm Cá mập" với chi phí 0 đồng.
Một cán bộ quận Hoàn Kiếm cũ khẳng định, theo quy định, dự án phá dỡ tòa nhà “Hàm cá mập” sẽ phải đấu thầu rộng rãi để lựa chọn đơn vị thi công. Đối với phế liệu sau phá dỡ là tài sản công, cũng phải tổ chức đấu giá xử lý theo các quy định pháp luật.
Theo vị này, sau khi nhận được đề xuất của các doanh nghiệp, quận Hoàn Kiếm cũ đã có văn bản báo cáo Sở Tài chính, UBND TP Hà Nội. Sau đó, Sở Tài chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu phá dỡ và xử lý tài sản công theo quy định.
Trao đổi với phóng viên xung quanh vấn đề này, TS. Nguyễn Mạnh Tùng (nguyên cán bộ Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam) cho biết, việc doanh nghiệp chủ động xin phá dỡ công trình với giá 0 đồng là một giải pháp lưỡng tiện: Vừa tiết kiệm ngân sách Nhà nước, vừa tạo chuỗi giá trị tuần hoàn cho doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước, có thể thấy ngay việc tiết kiệm ngân sách, đẩy nhanh tiến độ dự án. Bên cạnh đó, thay vì Nhà nước phải tìm bãi đổ thải tập trung cho hàng nghìn tấn bê tông, gạch đá cũ thì các doanh nghiệp chuyên nghiệp sẽ tự có phương án phân loại, tái chế hoặc san lấp theo giấy phép kỹ thuật, giảm áp lực hạ tầng môi trường cho thành phố.
Đối với doanh nghiệp, họ tận thu được ngay từ các công trình kiên cố với khối lượng thép hình, thép cốt bê tông, hệ thống dây đồng, cửa nhôm kính và thiết bị kỹ thuật cực kỳ lớn. "Doanh nghiệp phá dỡ thực chất là một đơn vị thu mua và chế biến phế liệu quy mô lớn", TS. Tùng nói.
Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng nhận định cần cơ chế minh bạch hóa "xác nhà công sản" bởi đây là dạng tài sản công được quy đổi thành tiền. Ông khẳng định: Không phải doanh nghiệp đề xuất dạng "xin-cho" mà phải đấu thầu rộng rãi để xác định giá trị. Ví dụ công trình định giá phá dỡ là 10 tỷ, nhưng giá trị phế liệu định giá 15 tỷ thì doanh nghiệp trúng thầu không chỉ phá dỡ mà còn phải nộp lại 5 tỷ đồng chênh lệch vào ngân sách nhà nước. Điều này vừa kích thích tư nhân tham gia, vừa đảm bảo không làm thất thoát tài sản của nhân dân.
Những bất cập này đang là rào cản rất lớn đối với vật liệu tái chế nếu không sớm có những chính sách rõ ràng. Đối với ngành xây dựng, vật liệu tái chế và vật liệu thân thiện môi trường được xem là một trong những lời giải quan trọng để giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, đồng thời xử lý bài toán chất thải ngày càng gia tăng tại các đô thị.
Câu chuyện phá dỡ "xác nhà công sản" không chỉ là một trường hợp cá biệt mà phần nào phản ánh rõ những bất cập lớn trong quản lý phế thải xây dựng: vừa lãng phí tài nguyên, vừa gây tốn kém ngân sách, trong khi doanh nghiệp tái chế đang “khát” nguyên liệu.
PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội)
Theo PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), Việt Nam đang đối mặt với lượng chất thải rắn xây dựng gia tăng rất nhanh. Hiện chất thải xây dựng chiếm khoảng 10-12% tổng lượng chất thải đô thị, tương đương khoảng 60.000 tấn/ngày và tại các đô thị lớn con số này có thể lên tới 20-25%.
Khối lượng chất thải rắn xây dựng đã tăng mạnh từ khoảng 1,9 triệu tấn năm 2010 lên khoảng 9,6 triệu tấn vào năm 2025. Thành phần chủ yếu là bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải, chiếm từ 70-90%, cho thấy tiềm năng rất lớn trong tái chế và tái sử dụng làm vật liệu xây dựng.
Theo ông Ân, tận dụng phế thải từ phá dỡ công trình không chỉ giúp giảm áp lực lên bãi chôn lấp mà còn góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tuy nhiên, quá trình phát triển vật liệu tái chế hiện vẫn gặp nhiều rào cản. Trước hết là chất lượng vật liệu tái chế chưa ổn định do thiếu phân loại chất thải tại nguồn. Nhiều loại phế thải xây dựng bị trộn lẫn tạp chất khiến việc tái chế gặp khó khăn, làm tăng chi phí xử lý và giảm chất lượng sản phẩm đầu ra. Bên cạnh đó, chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải xây dựng hiện còn khá cao, trong khi giá vật liệu truyền thống vẫn tương đối rẻ. Điều này khiến doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà đầu tư vào công nghệ tái chế.
Một trở ngại khác là hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho vật liệu tái chế vẫn chưa đồng bộ. Thị trường cũng còn tâm lý e ngại khi nhiều chủ đầu tư vẫn ưu tiên vật liệu truyền thống do lo ngại rủi ro về chất lượng và tuổi thọ công trình.
Theo các chuyên gia, để vật liệu tái chế thực sự phát triển, cần đồng thời triển khai nhiều giải pháp từ chính sách đến công nghệ và thị trường.
Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật là yếu tố then chốt nhằm tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Nhà nước cũng cần có cơ chế ưu đãi cụ thể như miễn, giảm thuế; ưu tiên tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình công; hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý hiện đại.
Ông Ân cho rằng, Việt Nam cũng cần áp dụng các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên, thuế carbon nhằm hạn chế sử dụng vật liệu truyền thống có phát thải lớn, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho vật liệu xanh.
Song song với đó là phát triển hệ thống phân loại chất thải tại nguồn và xây dựng chuỗi cung ứng vật liệu tái chế đồng bộ. Việc thúc đẩy hợp tác công - tư, nâng cao nhận thức xã hội và khuyến khích các mô hình kinh tế tuần hoàn cũng đóng vai trò quan trọng.
Nhìn ra thế giới, xu hướng xây dựng tuần hoàn đã và đang dần thay thế vật liệu truyền thống. Tại khu tài chính Canary Wharf ở London (Anh), một tòa tháp văn phòng được xây dựng bằng bê tông chứa vật liệu tái chế từ chính công trình bị phá dỡ gần đó. Đây là một phần trong chiến lược giảm phát thải carbon của Canary Wharf Group – tập đoàn bất động sản sở hữu và vận hành khu vực này.
Bloomberg dẫn lời bà Sophie Goddard - giám đốc ESG của Canary Wharf Group, cho biết bê tông là vật liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong ngành xây dựng nhưng cũng là nguồn phát thải lớn, buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận. Tại công trường Canary Wharf, bê tông từ các tòa nhà bị phá dỡ được nghiền nhỏ, tách riêng phần cốt liệu và xi măng để tái sử dụng trong các công trình mới. Hiện giới chức Anh cho phép tỷ lệ bê tông tái chế tối đa khoảng 20% trong hỗn hợp bê tông xây dựng.
Một công nhân vận hành chiếc máy nén gạch vữa từ những ngôi nhà đổ nát ở Dải Gaza thành gạch kiểu lego. Ảnh: Wired
Châu Á cũng bắt đầu đẩy mạnh tái chế vật liệu xây dựng. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Nature năm 2024 cho thấy Singapore đang thử nghiệm thay thế một phần xi măng bằng các vật liệu tái chế như xỉ lò cao nghiền mịn, bột thủy tinh tái chế và đất sét biển nung.
Tại Trung Quốc, chính phủ đang thúc đẩy chiến lược “thành phố không rác thải” nhằm tăng cường tái chế chất thải xây dựng và phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo truyền thông trong nước, Trung Quốc dự kiến mở rộng chương trình lên khoảng 200 thành phố trong giai đoạn 2026–2030. Mục tiêu là nâng cấp hệ thống thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải rắn, bao gồm cả chất thải xây dựng và phá dỡ.
Theo kế hoạch, khoảng 60% các thành phố Trung Quốc sẽ tham gia chương trình vào năm 2027. Trong giai đoạn 2021–2025, nước này đã triển khai mô hình tại 113 thành phố và 8 khu vực thí điểm.
Vào cuối thế kỷ 20 tại Nhật Bản, lượng chất thải phát sinh từ các công trường xây dựng chiếm gần 20% tổng khối lượng chất thải công nghiệp và 70% lượng chất thải bị đổ trộm ra môi trường tự nhiên. Để khắc phục những hoạt động gây hại cho môi trường, năm 2000, Nhật Bản ban hành Luật Tái chế vật liệu xây dựng, quy định nghĩa vụ phân loại và tái chế chất thải phát sinh trong quá trình thi công đối với các nhà thầu.
Theo luật này, đơn vị phát sinh chất thải phải lựa chọn đơn vị xử lý chất thải, chi trả chi phí xử lý và áp dụng các biện pháp an toàn trong các hoạt động phá dỡ và cải tạo nguy hiểm.
Tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng tại Nhật Bản đã tăng mạnh kể từ những năm 1990, đạt 96% vào năm 2012.
Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng giữ vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên xây dựng nhờ phát triển công nghệ tái chế và tái sử dụng vật liệu: Hazama Ando Corporation và Kameiseito phát triển vật liệu xây dựng tái chế; Seiyukogyo và Hanshin Expressway nghiên cứu tái chế bùn thải xây dựng; Takatoshi cải tiến công nghệ phân loại chính xác cao.
Nhật Bản cũng thử nghiệm nhiều vật liệu xây dựng bền vững từ nguyên liệu tái chế. Những sáng kiến này giúp tái sử dụng những vật liệu vốn trước đây bị loại bỏ.
Trần Hoàng - Ngọc Mai - Thu Loan - Lộc Liên | Đồ họa: Kiều Tú