Quá trình này, Đảng, Nhà nước xác định rõ quan điểm tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, văn hóa và con người. Trong đó, lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản là nền móng tri thức, cơ sở hình thành công nghệ lõi, tạo dựng năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
Nghiên cứu khoa học ở phòng thí nghiệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: PV
1. Tại buổi làm việc diễn ra mới đây (ngày 25-5 vừa qua) của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo đã có bài phát biểu kết luận quan trọng phân tích toàn diện các cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra, mục tiêu, nhiệm vụ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản của nước ta hiện nay.
Một trong những yêu cầu then chốt là phải xác định rõ nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia. Vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.
Trên cơ sở đó, phải phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, công nghệ nền tảng với khoa học xã hội và nhân văn và con người được đặt ở vị trí trung tâm trong nhiệm vụ quan trọng này.
Thông tin rất đáng chú ý là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu hàng loạt mục tiêu quan trọng.
Mục tiêu tổng quát là xây dựng nền nghiên cứu khoa học cơ bản Việt Nam hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, có khả năng tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, cung cấp luận cứ chiến lược cho hoạch định đường lối, chính sách và làm nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là từ nay đến tháng 6-2027 phải tháo gỡ toàn bộ các điểm nghẽn, nút thắt và cần hình thành tương đối đồng bộ hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản quốc gia. Bên cạnh đó, từng bước xây dựng một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu khoa học lớn và hạ tầng nghiên cứu dùng chung có năng lực cạnh tranh trong khu vực.
Đặc biệt, cần phấn đấu thực hiện cho được các mục tiêu nêu ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cụ thể: Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP; nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16-18%/năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%...
Bên cạnh đó, phải hình thành được cơ chế tài chính đặc thù cho nghiên cứu cơ bản; cơ chế tài trợ đa niên 5, 10, 15 năm đối với nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc; cơ chế hậu kiểm, chấp nhận rủi ro khoa học; cơ chế riêng phù hợp với khoa học xã hội và nhân văn.
Mục tiêu đến năm 2045, hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản có năng lực cạnh tranh quốc tế; từng bước hình thành các trường phái khoa học Việt Nam. Đặc biệt, phải nâng cao năng lực tự chủ ở một số công nghệ chiến lược; đồng thời, xây dựng nền khoa học xã hội và nhân văn đủ năng lực cung cấp luận cứ cho quản trị quốc gia hiện đại và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ các mục tiêu, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đặt ra là phải thống nhất quan điểm phát triển để bảo đảm mọi giải pháp, nguồn lực và tổ chức thực hiện đều đi đúng hướng, đúng trọng tâm và đúng tầm chiến lược.
Trong đó, một trong những quan điểm về phát triển khoa học cơ bản là phải phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao năng lực dự báo, quản trị quốc gia và khả năng thích ứng với những biến động lớn của thế giới.
Yêu cầu quan trọng tiếp theo là phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học theo hướng chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ quản lý theo hồ sơ sang đánh giá theo chất lượng, tác động và đóng góp dài hạn. Mục tiêu phải làm cho được là xây dựng môi trường học thuật trung thực, tự do sáng tạo nhưng gắn với trách nhiệm khoa học và trách nhiệm quốc gia.
Những vấn đề nêu trên đều đặt con người là trung tâm. Bởi muốn có nền khoa học mạnh thì trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh; có hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học.
Trên tinh thần vào cuộc khẩn trương, đúng hướng, đúng trọng tâm và đúng tầm chiến lược, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ 9 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Cụ thể là tháo gỡ, giải quyết cơ bản các điểm nghẽn, nút thắt, tạo hành lang pháp lý cho nghiên cứu khoa học cơ bản; khẩn trương xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045; xây dựng Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên; xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học xã hội và nhân văn; xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản; xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu hoàn thiện đề án tái cấu trúc và cơ chế hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội; ban hành chuẩn liêm chính khoa học quốc gia; thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu phục vụ trực tiếp xây dựng nghị quyết, luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách quốc gia.
Có thể thấy, vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản đã có bước chuyển rất quan trọng để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nếu như trước đây, khoa học cơ bản được nhìn như hoạt động học thuật chuyên sâu của các viện nghiên cứu, trường đại học, thì hiện nay đã trở thành nền móng tri thức của quốc gia.
Đặc biệt, khi Đảng, Nhà nước xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, thì nghiên cứu khoa học cơ bản chính là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa, năng lực dự báo chiến lược, hoạch định chính sách và tự chủ phát triển bền vững đất nước.
Hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ về nghiên cứu khoa học cơ bản trên cơ sở kiên định quan điểm người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển.
Tựu trung, công tác nghiên cứu khoa học cơ bản là nền móng tri thức quốc gia. Từ đó, giúp đất nước phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược. Đồng thời, phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về lĩnh vực công nghệ, qua đó góp phần đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh.
Chí Kiên