Người dân làng Hồ Nam tin rằng làng đã có lịch sử lập dựng cách ngày nay cả nghìn năm.
Hồ Nam là một làng lớn, trước đây thuộc xã Vĩnh Khang (một làng - một xã), sau thuộc xã Ninh Khang, huyện Vĩnh Lộc cũ. Hiện nay làng thuộc xã Vĩnh Lộc. Làng nằm ở vị trí hợp lưu của sông Bưởi và sông Mã. Nhờ phù sa sông bồi đắp qua cả ngàn vạn năm đã tạo cho ngôi làng bên sông hệ thống đồng ruộng (trong đê) và bãi bồi (ngoài đê) màu mỡ, là điều kiện lý tưởng cho canh tác nông nghiệp, trồng cây rau màu. Cũng nhờ đó, trước đây Hồ Nam từng nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm. Dẫu vậy, bên cạnh thuận lợi thì nằm bên sông nước cũng khiến đất và người Hồ Nam trong lịch sử từng phải nhiều lần đối mặt với lũ lụt. Song vượt lên những khó khăn, những thế hệ con người cần lao vẫn chăm chỉ làm ăn, xây dựng cuộc sống ấm no, làng quê trù phú.
Bên cạnh đồng ruộng tốt tươi, trên đất làng Hồ Nam còn có những núi thấp, như núi Cẩm Ven (hay núi Chùa Ngói), núi Nang, núi Thuyền... điểm tô cho bức tranh làng quê thêm tươi đẹp.
Theo sách Lịch sử xã Vĩnh Khang, vào năm 1934, tình cờ một người dân đi làm đồng đã nhặt được hiện vật bằng gốm. Một người Pháp lúc bấy giờ biết rõ đây là đồ vật cổ nên đã tổ chức đào, tìm kiếm. Địa điểm người Pháp tổ chức đào được gọi là Cộm Rùa nằm trên bến Phà Công... Về sau, các nhà khảo cổ học người Thụy Điển, người Pháp trong quá trình khai quật cũng tìm thấy ở đây các hiện vật liên quan đến văn hóa Đông Sơn... Từ đây, các nhà nghiên cứu có căn cứ tin rằng, từ hơn 2000 năm trước, người Việt cổ đã sinh sống ở vùng đất bên sông Mã.
Đình Hồ Nam là nơi người dân tôn thờ Thành hoàng làng Quản gia Đô Bác Trịnh Ra.
Sau thời kỳ văn hóa Đông Sơn hàng nghìn năm, trên đất làng Hồ Nam, từ những dấu tích và chuyện kể, người dân tin rằng làng được lập dựng vào thời Lý. Bấy giờ, ở khu vực núi Cẩm Ven (cuối làng Phi Bình - đầu làng Hồ Nam) bên sông Mã đã có cụm dân cư sinh sống, gọi là làng Ngõ. Những cư dân buổi đầu đã chọn “mảnh đất Vườn Trầu, phía dưới đường Đa Khuyễnh, dọc theo sông Mã”, về sau một bộ phận dân cư chuyển ra đất Cồn Cam - Đa Giếng.
Trải qua thời gian với sự phát triển về dân cư, đất Vườn Trầu và Cồn Cam trở nên chật hẹp. Vì thế, những người dân trong làng đã cùng dời về vị trí làng Hồ Nam hiện tại. “Địa bàn khu dân cư mới cao ráo, rộng rãi, đất đai phì nhiêu, điều kiện làm ăn thuận lợi, do đó các dòng họ ở nhiều nơi đã lần lượt đến đây sinh cơ lập nghiệp, trở thành xóm làng trù phú và có tên là Nam Cai. Đến đời vua Tự Đức... làng đổi tên thành Hồ Nam” (sách Lịch sử xã Vĩnh Khang). Nơi đất lành chim đậu, từ những dòng họ đầu tiên, đến nay trên đất làng Hồ Nam đã có đến 36 dòng họ cùng quần cư. Trong đó, họ Mai, Trần, Nguyễn Đức, Trịnh Đình là những dòng họ lớn.
Đất nước trải qua những năm tháng bị thực dân Pháp rồi phát xít Nhật đô hộ, người dân lâm vào cảnh đói nghèo, cùng cực. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nước Việt Nam độc lập, người dân Việt Nam tự do. Tuy nhiên, bấy giờ đất nước cũng đối mặt với muôn vàn khó khăn. Một trong số đó là “giặc dốt” với tình trạng hơn 90% người dân mù chữ. “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và để diệt giặc dốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động phong trào xóa nạn mù chữ.
Cũng như nhiều làng quê Việt Nam thời bấy giờ, phần lớn người dân làng Hồ Nam khi ấy không biết chữ, số người đọc thông viết thạo, giỏi chữ nghĩa chiếm tỉ lệ nhỏ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, người làng Hồ Nam đã hăng hái thay đổi với quyết tâm diệt giặc dốt. Những lán trại - lớp học được lập dựng ở ngay trên đường ra bến sông. “Toàn xã có 12 lớp học tất cả. 6 lớp học buổi trưa, học viên gồm cụ già, trẻ em và phụ nữ có con mọn, còn lại 6 lớp học vào ban đêm là những nông dân, thanh niên... Các giáo viên do nhân dân giới thiệu gồm những người biết chữ, có trình độ... Tất cả giáo viên đem hết sức nhiệt tình trong giảng dạy, tìm mọi biện pháp để giảng dạy làm cho học viên dễ thuộc, dễ nhớ” (sách Lịch sử xã Vĩnh Khang).
Nhờ sự nhiệt huyết của giáo viên và tinh thần diệt giặc dốt của “học sinh”, làng Hồ Nam xã Vĩnh Khang trở thành một trong những xã nông thôn đầu tiên trong cả nước xóa nạn mù chữ thành công, năm 1956 được Bác Hồ viết thư khen ngợi. Thư Bác viết: “Tôi rất vui lòng được báo cáo nhiều nơi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ. Nông thôn cả nước thì Vĩnh Khang là xã dẫn đầu trong thành tích thoát nạn mù chữ, rồi tiếp đến các xã Tam Cường, Liên Sơn, Diễn Liên và nhiều xã khác... Tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi đồng bào và cán bộ, đồng thời khuyên đồng bào và cán bộ tiếp tục cố gắng học thêm mãi để tiến bộ mãi”.
Những bãi bồi bên sông xanh mướt mát của làng Hồ Nam.
Qua thời gian cả nghìn năm lập dựng và phát triển, những thế hệ người dân làng Hồ Nam bên cạnh nỗ lực mưu sinh, vượt khó khăn, phát triển kinh tế đã không ngừng sáng tạo, vun đắp các giá trị văn hóa, cho đời sống tinh thần phong phú. Một trong những công trình văn hóa giàu giá trị của đất và người Hồ Nam còn lưu giữ đến ngày nay là đình Hồ Nam - Di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật.
Đình Hồ Nam tọa lạc ở vị trí trung tâm làng, phía trước là sông Mã, phía sau là làng mạc, khu dân cư. Đình được dựng vào khoảng đầu thời Nguyễn với hệ thống cột (gỗ, đá) - chân tảng đá vững chãi, gồm 5 gian, 6 vì. Không chỉ vững chãi và bề thế, đình Hồ Nam còn nổi bật với các mảng chạm khắc gỗ tinh xảo nhờ sự tài hoa của nghệ nhân xưa. Là các hình dây leo, hoa lá cách điệu; hổ phù; tứ linh (long, ly, quy, phượng), cùng với đó còn có hươu, nai, chim, voi, rồi hình tượng vua đi cày ruộng... Tất cả đều sắc nét và sống động, thể hiện sự cầu kỳ và tâm huyết của người dân và người nghệ nhân.
“Trải qua năm tháng, đình Hồ Nam cũng không tránh khỏi việc hư hỏng, xuống cấp. Với sự trân trọng di sản văn hóa của tiền nhân, người dân làng Hồ Nam và các nhà hảo tâm xa gần đã cùng chung tay đóng góp kinh phí để trùng tu đình. Đình Hồ Nam là không gian văn hóa cộng đồng, nơi thờ Thành hoàng làng Quản gia Đô Bác Trịnh Ra. Hằng năm vào ngày 14/11 âm lịch, người dân làng Hồ Nam cùng theo chân nhau về đình, tổ chức lễ hội truyền thống. Lễ hội đình Hồ Nam là sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng lâu đời, góp phần làm nên nét đẹp của đất và người Hồ Nam”- ông Nguyễn Văn Luân, phó ban quản lý di tích đình Hồ Nam chia sẻ.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Lịch sử xã Vĩnh Khang, NXB Thanh Hóa, 2012 và một số tài liệu lưu giữ tại địa phương).
Bài và ảnh: Khánh Lộc