Nằm ở độ cao khoảng 1.500m, Mường Lống quanh năm mây phủ, được ví như “cổng trời” của miền tây xứ Nghệ. Theo lời các bậc cao niên, tên gọi Mường Lống bắt nguồn từ tiếng Thái “Lống Tang”, nghĩa là lạc đường. Thuở trước, rừng già dày đặc, lối mòn ngoằn ngoèo vắt qua lưng núi. Chỉ một chút lơ đãng giữa đại ngàn cũng có thể khiến người đi rừng mất dấu. Cái tên nghe đã thấy heo hút, nhưng lại phản ánh đúng sự khắc nghiệt và bí ẩn của vùng đất này.
Mường Lống quanh năm mây phủ, được ví như “cổng trời” của miền tây xứ Nghệ.
Ngày nay, đường lên Mường Lống đã bớt nhọc nhằn hơn trước, song những khúc cua gấp sát mép vực vẫn đủ khiến người miền xuôi nín thở. Càng lên cao, mây càng sà thấp. Có những đoạn sương mù giăng kín lối, tưởng như chỉ cần đưa tay là chạm vào mây trắng.
Trước khi có xe máy, chưa có đường bê tông, chính những con ngựa bản địa đã cõng cả nhịp sống của người Mông vượt qua từng con dốc. Ngựa chở lúa, chở ngô, chở củi, chuyên chở cả những chuyến thăm hỏi giữa các bản làng. Với người vùng biên ải, ngựa không chỉ là sức kéo mà còn là tài sản quý giá, là niềm tự hào của mỗi gia đình. Nhà nào có ngựa coi như có thêm đôi chân khỏe mạnh giữa núi rừng.
Ngựa chở lúa, chở ngô, chở củi, chuyên chở cả những chuyến thăm hỏi giữa các bản làng.
Ông Và Bá Chư, ở bản Mường Lống 1, nay đã ngoài 50 tuổi, vẫn giữ đàn ngựa đông nhất xã với hơn 20 con. Chiều xuống, đàn ngựa lặng lẽ gặm cỏ trên triền đồi, tạo nên một khung cảnh yên bình giữa mây núi. “Giống ngựa này có từ thuở lập bản. Tổ tiên mình nuôi qua bao đời. Giữ được con ngựa là giữ được cái hồn của núi”, ông Chư chia sẻ.
Ngựa Mường Lống vốn quen với khí hậu lạnh và khắc nghiệt, ít bệnh, chịu được sương gió. Ông Lầu Bá Chò, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Lống cho biết, giống ngựa này rất phù hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống của bà con. Tuy nhiên, khi đường sá mở mang, xe máy và xe tải dần thay thế, vai trò của ngựa cũng phai nhạt theo. Nuôi ngựa không còn mang lại giá trị kinh tế rõ rệt như trước, nhiều gia đình vì thế bán dần, bỏ dần.
Trong ký ức của già làng Và Nhìa Tu, mỗi nhà đều có vài con; thiếu ngựa, cuộc sống trên núi cao gần như không thể xoay sở.
Có thời điểm, ngựa hiện diện ở hầu khắp các bản. Nay, toàn xã chỉ còn khoảng 30 - 40 con, rải rác ở các bản Trung Tâm, Mường Lống 1, Mường Lống 2, Thẳm Hốc. Con số ấy khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng.
Giữa những đổi thay, câu chuyện giữ gìn giống ngựa bản địa được nhắc đến nhiều hơn. Không chỉ vì giá trị vật chất, mà bởi nỗi lo một ngày nào đó, lũ trẻ trong bản chỉ còn biết đến ngựa qua lời kể của ông bà.
Những năm gần đây, Mường Lống được ví như “Sa Pa của xứ Nghệ”. Du khách tìm đến săn mây, nghỉ homestay, trải nghiệm những vườn mận cổ và cái lạnh gần như quanh năm của vùng cao. Trong các cuộc họp bản, người dân và chính quyền đã bàn đến ý tưởng đưa ngựa vào phát triển du lịch cộng đồng. Không ồn ào, không rầm rộ, chỉ là những chuyến cưỡi ngựa thong thả quanh bản, nghe kể chuyện xưa giữa không gian mây núi.
Ngày nay, đường lên Mường Lống đã bớt nhọc nhằn hơn trước, song những khúc cua gấp sát mép vực vẫn đủ khiến người miền xuôi nín thở. Ảnh: TH
Già làng Và Nhìa Tu, kể lại: “Ngày trước, muốn lên rẫy hay sang bản khác, chỉ trông vào con ngựa. Lúa ngô cũng đặt lên lưng nó cả. Giờ mà giữ được ngựa, vừa để nhớ chuyện cũ, vừa chở khách đi quanh bản, cũng hay chứ”.
Trong ký ức của ông, mỗi nhà đều có vài con; thiếu ngựa, cuộc sống trên núi cao gần như không thể xoay sở.
Câu nói giản dị ấy ẩn chứa mong mỏi gìn giữ một phần bản sắc. Giữ được giống ngựa ấy, có lẽ cũng là giữ lại “nhịp vó xưa” từng in dấu trên những con đường mây phủ của miền biên viễn. Với người Mông ở Mường Lống, ngựa không chỉ là vật nuôi, mà là chứng nhân của bao mùa rẫy, bao chuyến đi trong sương mù và bao đổi thay của “cổng trời”.
Trần Tú