Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Kim Xuân với những kỷ vật thời chiến.
Tình nguyện nhập ngũ
Sinh năm 1936 tại xã Đình Chu (cũ), nay thuộc xã Sơn Đông, học xong phổ thông, ông Xuân vào làm tại hợp tác xã rồi lấy vợ, sinh được hai người con. Cuộc sống của gia đình nhỏ cứ thế êm đềm trôi. Năm 1961 ông được kết nạp Đảng. Trở thành đảng viên, ông tự thấy bản thân mình có trách nhiệm hơn, gương mẫu hơn trong mọi công việc. Đến năm 1962, ông tình nguyện viết đơn lên đường nhập ngũ. Ông cùng đồng đội tham gia huấn luyện tại Sư đoàn 312, Trung đoàn 141 đóng tại Vĩnh Phúc. Sau 1 tháng huấn luyện, ông được biên chế về Đại đội 19 là đơn vị công binh thuộc Trung đoàn 141.
Ông chia sẻ: “Thời điểm đó như bao thanh niên yêu nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tôi hăng hái lên đường nhập ngũ. Biết là chiến trường khốc liệt nhưng ai cũng tình nguyện viết đơn với tâm thế sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Mỗi ngày huấn luyện là một ngày cố gắng để làm quen, để học, để nắm vững kiến thức về quân sự, những điều rất xa lạ với đa số anh em chiến sĩ mới”.
Trong thời gian ở Đại đội 19, do là đảng viên, ông được đơn vị cử đi học 3 tháng hạ sĩ quan và giao phụ trách nhiệm vụ Trung đội trưởng. Hơn 1 năm tại Trung đoàn 141, ông cùng đồng đội được huấn luyện rà phá bom mìn. Sau thời gian huấn luyện, Sư đoàn kiểm tra đơn vị, ông là một trong những chiến sĩ có kết quả huấn luyện tốt, được đơn vị cử học thêm nghiệp vụ sĩ quan công binh từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1966 tại Trung đoàn 229 công binh, Bộ Tư lệnh công binh.
Ông chia sẻ: Ngày nhập ngũ cũng có nhiều lo lắng không biết mình có hoàn thành nhiệm vụ không, được biên chế về đơn vị nào, nhiệm vụ có khó khăn không? Từ khi được tham gia huấn luyện phá, gỡ bom mìn, không riêng tôi mà tất cả đơn vị đều xác định đây là nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi về chuyên môn, bản lĩnh. Nhưng dù khó khăn đến đâu, tất cả đều hướng về mục tiêu là hoàn thành huấn luyện ở mức tốt nhất. Đầu năm 1967, tôi được điều sang đơn vị chuyên phá, gỡ bom mìn thuộc Binh chủng công binh. Đây cũng là thời điểm hoàn thành các khóa huấn luyện chuẩn bị cho những nhiệm vụ ngoài chiến trường.
Sẵn sàng hy sinh để đường thông, xe tiến
Tháng 10/1967, ông Trần Kim Xuân được điều động phụ trách Phân đội phá bom mìn, chuyên phá, gỡ bom mìn tại các bến phà, cầu cống, đường từ phà Bắc Ninh, Hà Nội vào đến Ninh Bình, Thanh Hóa để bảo đảm giao thông thông suốt cho các chuyến hàng chi viện vào tiền tuyến miền Nam. Thời điểm đó, phương tiện kỹ thuật rất thô sơ nên công việc phá bom đòi hỏi sự cẩn trọng, nhanh chóng cũng như khéo léo của từng cá nhân. Vừa được điều động về Phân đội 2, đơn vị ông nhận nhiệm vụ phá quả bom nằm án ngữ trên đường tàu. Nhiệm vụ này khó khăn ở chỗ không được phá nổ mà phải lấy được bom ra để đảm bảo không ảnh hưởng đến tuyến đường tàu huyết mạch. Đây là nhiệm vụ nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ông chia sẻ: “Đối diện với bom mìn, ai cũng sợ nhưng vì nhiệm vụ, trách nhiệm nên những người lính phá bom tự trấn tĩnh bản thân, chỉ mong sao những con đường hết bom mìn, người và xe đi lại an toàn”. Sau khi nghiên cứu, ông quyết định tháo bom. Quả bom được tháo nổ thành công, ông có thêm kinh nghiệm mới với những loại bom từ trường - loại bom khó gỡ nhất, thường xuyên được cải tiến, chỉ một thay đổi nhỏ về từ trường là nổ.
Đường hành quân của những người lính phá, gỡ bom mìn là cứ địch ném bom ở đâu, họ có mặt ngay ở đó để tháo, phá những quả bom, mìn chưa nổ, đảm bảo cho tuyến đường xe qua được an toàn. Công việc phá bom có những nguyên tắc khắt khe, đòi hỏi người lính phải có sự gan dạ, nhanh trí. Ông nhớ lại: Từ năm 1968, không quân Mỹ tăng cường ném bom trên tuyến đường Trường Sơn, tôi cùng đồng đội được tăng cường về Binh đoàn 12 làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn dọc tuyến đường 20 từ Quảng Bình đến chân đèo Phu La Nhích. Đây là nơi địch tập trung bắn phá ác liệt với mục đích cắt đứt sự chi viện của miền Bắc dành cho miền Nam. Mỗi ngày máy bay Mỹ oanh tạc nhiều đợt, ném nhiều loại bom mìn như bom đào, bom phá, bom bi, bom nổ chậm, bom từ trường... xuống nơi đây. Mỗi loại bom có cấu tạo khác nhau, mỗi lần lại có sự cải tiến ưu việt hơn trước. Vì thế người phá bom không chỉ dựa vào kiến thức mà phải có cả kinh nghiệm để làm sao phá được nhiều bom, mìn nhất song vẫn phải đảm bảo an toàn cho bản thân, đồng đội. Có những lần đối diện với nguy hiểm, nhưng chúng tôi đều cố gắng làm việc suốt đêm ngày để đảm bảo mạch nối giao thông chi viện cho chiến trường miền Nam.
Những lúc rảnh rỗi ông lại tỉ mỉ sửa chữa đồ điện.
Hân hoan ngày chiến thắng
Mỗi chiến trường đi qua, ông Xuân cùng đồng đội đều ghi những dấu ấn, kỷ niệm. Đó là sự khốc liệt của Quảng Trị nơi mỗi tấc đất đều bị bom đạn cày nát; đó là Huế - đất kinh thành lịch sử; là tuyến đường Trường Sơn nơi có biết bao đồng đội đã ngã xuống cho đường thông, xe tiến. Không trực tiếp tham gia vào trận chiến, nhưng ông và đồng đội đã góp phần vào sự thành công của mỗi chiến dịch.
Xúc động nhớ lại giờ phút lịch sử chiến thắng của quân đội ta trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Kim Xuân tâm sự: Lúc nghe tin chiến thắng, đơn vị của tôi đang làm nhiệm vụ rà, phá bom mìn ở kinh thành Huế. Lúc này, không ai bảo ai, mọi người ôm chầm lấy nhau, hạnh phúc đan xen những giọt nước mắt. Không vội ăn mừng, chúng tôi lại tiếp tục làm nhiệm vụ để đón người dân trở về vùng giải phóng an toàn.
Suốt hơn 20 làm nhiệm vụ rà phá bom mìn, ông Xuân đã chiến đấu, chỉ huy chiến đấu 52 trận; trực tiếp phá nổ gần 4.000 quả bom, mìn các loại; tháo gỡ 8 mìn chống xe tăng và 75 đầu nổ các loại. Ghi nhận những đóng góp đó, năm 1978, ông được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1990 ông nghỉ hưu trở về địa phương. Năm 1991, ông được Binh đoàn 12 mời làm cố vấn tham gia và phá gỡ bom, mìn còn sót lại sau chiến tranh phục vụ xây dựng đường điện 500kV Bắc - Nam và đường Tây Trường Sơn. Trong thời gian tại địa phương, ông tiếp tục tham gia công tác Hội Cựu chiến binh với vai trò là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Đình Chu (cũ), rồi Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam. Dù ở cương vị nào, ông cũng làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Những lúc nhàn rỗi, ông lại tỉ mẩn sửa chữa đồ điện, đó như một cách để ông nhớ lại “nghề”.
Đưa tôi lên căn phòng với những kỷ vật thời chiến, những tấm huy chương được lưu giữ cẩn thận, với ông đó là tài sản vô giá trong cuộc đời làm cách mạng. Năm nay bước sang tuổi 90, ông Xuân vẫn minh mẫn, mạnh khỏe. Vào những dịp kỷ niệm, ngày lễ, ông lại dành thời gian tham gia các cuộc gặp mặt, trò chuyện với học sinh để “truyền lửa” cho thế hệ trẻ, động viên các cháu phấn đấu học tập, lao động, góp sức xây dựng quê hương, đất nước.
Thu Hà