Cây luồng được chọn làm cánh nỏ sẽ rất chắc và bền.
Ngôi nhà của ông tựa lưng vào núi, phía trước là con suối chảy róc rách quanh năm, xung quanh cây cối xanh mát. Trong không gian yên bình ấy, đôi bàn tay đã hằn vết thời gian của ông Chu vẫn bền bỉ đục, tỉa, vót, mài từng chi tiết nhỏ.
Hơn nửa đời người gắn bó với nghề, bàn tay ấy đã làm nên hàng trăm chiếc nỏ, phục vụ bà con trong bản và các hội xuân địa phương.
Ông kể, từ thuở thiếu niên đã theo các bậc cao niên học làm nỏ. Khi ấy, cây nỏ là vật dụng quan trọng để săn bắt, xua đuổi thú dữ. Khoảng 15-16 tuổi, ông đã tự tay làm được những chiếc nỏ đầu tiên cho mình và cho thanh niên trong bản.
Ngày trước, ông phải trèo lên núi cao tìm loại gỗ chắc, dẻo để chế tác. Nay ông tận dụng cây luồng – vật liệu quen thuộc nhưng vẫn bảo đảm độ bền và độ đàn hồi tốt. Mỗi chiếc nỏ sau khi hoàn thiện đều được ông cẩn thận treo trên gác bếp để tránh mối mọt, giữ được độ bền lâu dài.
Ông Chu đã làm hàng trăm chiếc nỏ phục vụ người dân địa phương, hội xuân.
Không chỉ khéo tay làm nỏ, trước đây ông Chu còn là người bắn nỏ giỏi của địa phương, từng đoạt giải cao tại các cuộc thi bắn nỏ trong các hội xuân. Ngày nay, cây nỏ không còn dùng để săn, mà trở thành trò chơi dân gian trong các lễ hội và để du khách mua về sưu tầm.
Ông Chu làm nỏ bán với giá từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng mỗi chiếc, vừa có thêm thu nhập, vừa thỏa niềm đam mê. “Tôi không làm nỏ thì thấy thiếu vắng một điều gì đó nên tôi không bỏ được công việc này” - ông nói.
Giữa nhịp sống đổi thay, người đàn ông tóc đã bạc ấy vẫn bền bỉ giữ nghề xưa. Với ông Chu, giữ cây nỏ cũng chính là giữ gìn bản sắc, để con cháu mai sau còn biết và tự hào về truyền thống của người Dao nơi miền sơn cước.
Duy Hiếu