Bà Nguyễn Ngọc Ánh (bên trái) trao tặng bức thêu Phật bà Quan Âm cho Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 10/2025
Bà Nguyễn Ngọc Ánh sinh năm 1951 giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt. Ngay từ thời khắc chào đời, cuộc đời bà dường như đã gắn với gian khó và biến động: mẹ bà sau cơn chuyển dạ đã đẻ "rơi" bà ngay bên bụi tầm vông trước nhà.
Lớn lên ở Củ Chi, vùng đất được mệnh danh là "Đất Thép thành đồng", bà sớm được nuôi dưỡng trong truyền thống yêu nước của gia đình và quê hương. Sống trong môi trường cách mạng, từ nhỏ bà đã sớm biết phân biệt địch-ta, hiểu nỗi đau mất nước và dấy lên trong lòng sự căm ghét quân xâm lược, tay sai.
Chính từ mảnh đất giàu truyền thống ấy, ngọn lửa cách mạng trong cô gái nhỏ Nguyễn Ngọc Ánh được nhen lên từ rất sớm.
Con đường đến với cách mạng của bà bắt đầu từ những công việc rất nhỏ nhưng đòi hỏi sự gan dạ, mưu trí. Khoảng năm 12, 13 tuổi, bà tham gia hoạt động măng non, làm liên lạc cho các chú, các cậu du kích.
Một trong những kỷ niệm bà không thể quên là lần nhận nhiệm vụ chuyển tài liệu giấu trong ổ bánh mì. Đứng bên đường, bụng đói nhưng vẫn phải nhấm nháp từng chút một theo lời dặn "ăn từ từ" để chờ người đến nhận, cô gái nhỏ khi ấy đã hoàn thành trót lọt việc vận chuyển tài liệu mật giữa vòng vây địch.
Không chỉ gan dạ, bà còn rất nhanh trí. Có những khi, ám hiệu liên lạc được quy ước bằng những dấu hiệu rất đời thường: thấy đống đậu đỏ đổ là an toàn, còn đậu đen là không nên gặp. Có lúc thấy cảnh sát rượt đuổi cán bộ cách mạng, bà đã lao xe đạp ra, giả vờ ngã ngay trước mặt chúng để cản đường, tạo cơ hội cho các anh chạy thoát.
Những việc tưởng nhỏ ấy đã rèn nên bản lĩnh, sự bình tĩnh và tinh thần dấn thân của một người chiến sĩ cách mạng.
Bà Nguyễn Ngọc Ánh (áo trắng, thứ hai từ trái sang) cùng các đồng đội từ căn cứ R về Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu
Mậu Thân 1968: lời thề son sắt của người con gái Củ Chi
Năm 1967, khi vừa tròn 16 tuổi, Nguyễn Ngọc Ánh được đưa vào căn cứ học võ trang, chính thức tham gia đội võ trang tuyên truyền để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Đêm Giao thừa năm ấy, trong bữa cơm gia đình giữa thời khắc chuyển giao đặc biệt, ba của bà-ông Nguyễn Văn Mật đã căn dặn con gái bằng giọng dứt khoát: nếu tham gia cách mạng mà bị địch bắt, bị tra tấn rồi khai báo, thì "ba chặt đầu chứ không chờ ai xử hết". Câu nói nghiêm khắc ấy đã khắc sâu vào trái tim người con gái trẻ như một lời thề đau đáu: thà chết chứ không phản bội tổ chức, phản bội đồng chí.
Đêm mồng 1 rạng sáng mồng 2 Tết Mậu Thân 1968, tiếng súng nổ vang. Gia đình bà vốn là cơ sở cách mạng, nơi cất giấu súng đạn dưới hầm củi. Khi chiến sự bùng lên, ngôi nhà bị bốc cháy nhưng nữ chiến sĩ trẻ vẫn giữ được bình tĩnh, chỉ huy anh em lấy vũ khí dưới hầm để tiếp tục chiến đấu. Cũng đêm mồng 2 Tết ấy, trong khi đang vận chuyển một khẩu súng cùng ba băng đạn giấu trong giỏ xách, bà rơi vào tay địch. Giữa vòng vây nguy hiểm, bà vẫn kịp hét lớn: "Lựu đạn đó, nhào vô tao thảy!" nhằm đánh động cho đồng đội đang ẩn nấp gần đó rút lui an toàn.
Ở tuổi mười sáu, mười bảy, bản lĩnh ấy thực sự là thép đã được tôi trong lửa.
Qua ngục tù, ý chí càng thêm sắt đá
Sau khi bị bắt, bà Nguyễn Ngọc Ánh bị giải đi qua nhiều nơi giam giữ: Nha Cảnh sát Quận 3, Nha Đô thành, Tổng nha Cảnh sát rồi các nhà tù Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp và hai lần bị đày ra Côn Đảo- nơi được xem là "địa ngục trần gian".
Trong suốt những năm tháng ấy, bà phải chịu đựng những trận đòn tra khảo tàn bạo, nhiều lần bị hành hạ đến kiệt sức. Nhưng mọi cực hình đều không thể khuất phục được ý chí của người nữ tù chính trị. Trước các cuộc thẩm vấn, bà chỉ một mực nhận mình là học sinh đi tìm mẹ khi nhà bị cháy, không biết gì về cách mạng. Sự kiên định ấy khiến kẻ địch cuối cùng cũng bất lực; hồ sơ của bà bị khép lại với tội danh "phá rối cuộc trị an".
Khi hay tin Bác Hồ từ trần, bà cùng các chị em ở Chí Hòa đã bí mật tổ chức lễ tang, dùng khăn tang tự chế và hát vang các bài ca cách mạng bất chấp sự đàn áp của địch. Ba lô đựng quần áo kê lên làm bàn thờ, viết chữ: Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm. Đồng loạt các nữ tù chính trị ở bốn phòng cất tiếng hát bài Quốc ca Việt Nam và bài Hồn tử sĩ. Đặc biệt, trong trận "Thủ Đức nổi dậy", bà cùng các chị em tù chính trị đã dùng những phương thức đấu tranh quyết liệt nhất, trong đó có việc dùng lon sữa Gigo bỏ vật nặng vào rồi cho vào ống quần làm vũ khí chiến đấu giáp lá cà.
Giữa chốn lao tù tưởng như chỉ có roi vọt và xiềng xích, những nữ tù cách mạng vẫn biến nhà tù đế quốc thành trường học, thành nơi nuôi dưỡng tinh thần, trui rèn ý chí. Họ học hát, học văn hóa, học thêu, truyền cho nhau niềm tin và nghị lực sống. Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, bà Nguyễn Ngọc Ánh vẫn còn lưu giữ bức thêu Phật Bà Quan Âm mà bà thêu năm 1972 tại nhà tù Tân Hiệp, sau lần đầu từ Côn Đảo trở về. Bức thêu không chỉ là một sản phẩm của đôi tay khéo léo, mà còn là lời đáp trả lặng lẽ nhưng mạnh mẽ trước luận điệu xuyên tạc của địch rằng người cộng sản là vô thần, không có gia đình, không có tổ tiên, không có Tổ quốc.
Đằng sau bức thêu ấy là biết bao tình nghĩa đồng chí, đồng đội. Trong điều kiện ngục tù thiếu thốn, gia đình phải bí mật gửi từng tép chỉ DMC vào, rồi chị em thay nhau thêu. Để giữ được bức thêu qua những lần khám xét ngặt nghèo, bà đã phải giấu dưới lưng, trong người, thậm chí trong áo ngực. Có lần bị đày ra Côn Đảo, bà may hẳn bức thêu vào sau lưng áo để qua mắt địch.
Cùng với bức thêu ấy là chiếc áo mẹ bà may sẵn sau Hiệp định Paris năm 1973, với niềm hy vọng con gái sẽ được trao trả. Khi nhận áo ở Lộc Ninh năm 1974, bà tự tay thêu thêm họa tiết "Mầm sống". Chiếc áo ấy bà đã mặc trong ngày 30/4/1975 và trong ngày ra mắt Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn- Gia Định. Nó không chỉ là một kỷ vật của tình thân gia đình mà còn là biểu tượng của niềm tin vào ngày toàn thắng, của sự sống vươn lên từ mất mát, tù đày và hy sinh.
Ký ức ngày khải hoàn
Năm 1974, sau khi được trao trả tại Lộc Ninh, nhóm "5 nữ chiến thắng" trong đó có bà Nguyễn Ngọc Ánh về công tác tại Trung ương Cục miền Nam. Giữa tháng 4/1975, bà tham gia lớp huấn luyện tại Bộ Chỉ huy Quân giải phóng để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn. Trong tâm khảm bà vẫn vẹn nguyên lời dặn của lãnh đạo: phải giữ gìn tài sản, thực hiện chính sách khoan hồng, giúp những người thuộc chế độ cũ hiểu đúng về cách mạng để sớm hòa nhập cộng đồng.
Sáng 30/4/1975, khi các cánh quân tiến vào Sài Gòn, bà Ánh với kỹ năng bắn súng giỏi, lái xe thành thạo và am tường phố phường được giao nhiệm vụ giao liên hỏatuyến cho Văn phòng Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn. Trong không khí hối hả, bà trực tiếp tham gia tiếp quản các dinh thự, cơ quan đầu não và chuyển thư từ cho lãnh đạo, từng có mặt tại Dinh Độc Lập ngay sau giờ phút lịch sử.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Nguyễn Ngọc Ánh được tiếp tục đi học văn hóa, nối lại con đường học hành dang dở, đứt đoạn vì chiến tranh, tiếp tục hăng say đóng góp tâm huyết, trí tuệ xây dựng đất nước.
Từ vùng đất thép Củ Chi, người con gái ấy đã đi qua lửa đạn, ngục tù và chiến thắng trở về để lại cho hôm nay không chỉ một câu chuyện đời, mà còn một bài học lớn về lòng yêu nước trung kiên, niềm tin, ý chí, bản lĩnh và sức mạnh vô song của con người Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến không thể nào quên./.
Tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi làm giao liên măng non, đến tuổi 16, bà Nguyễn Ngọc Ánh chính thức gia nhập đội võ trang tuyên truyền, chiến đấu quả cảm trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 trước khi bị địch bắt.
Trải qua nhiều nhà tù và hai lần bị đày ra Côn Đảo, bà chịu đựng tra tấn tàn bạo nhưng vẫn giữ trọn khí tiết, biến nhà tù thành trường học cách mạng và hạnh phúc vỡ òa khi được trở về tiếp quản thành phố Sài Gòn thân yêu Sài Gòn trong thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975.
Thu Hoàn