Người Thái giữ rừng bằng hương ước truyền đời

Người Thái giữ rừng bằng hương ước truyền đời
3 giờ trướcBài gốc
Từ xa xưa người dân bản Hốc đã có hương ước về giữ rừng.
Từ hương ước bằng miệng đến bằng giấy
Bản Hốc nằm trong một thung lũng nhỏ thuộc xã Hùng Chân (Nghệ An), xung quanh là dãy núi Pù Hốc xanh thẫm. Dãy núi như bức tường thành tự nhiên che chở cho bản làng. Theo lời các bậc cao niên, cách đây hơn ba thế kỷ, hai dòng họ Lương và Quang đã vượt núi, theo dòng suối tìm đến vùng đất này khai hoang, dựng nhà, lập bản. Thời điểm đó, Pù Hốc còn nguyên sơ, rừng dày, cây cổ thụ chen tán, suối nguồn trong vắt chảy quanh năm, đất đai màu mỡ đủ nuôi sống bao thế hệ. Rừng không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là điểm tựa tinh thần của bà con trong bản.
Dù rừng có tài nguyên thiên nhiên phong phú, dồi dào nhưng từ xa xưa đồng bào dân tộc Thái nơi đây nhận ra một điều, nếu chỉ biết khai thác mà không gìn giữ, rừng sẽ cạn kiệt và cuộc sống nơi thung lũng này cũng khó bền lâu. Bởi vậy, một quy ước truyền miệng được hình thành như lời cam kết chung của đồng bào. Bà con quy ước, chỉ được vào rừng chặt gỗ khi thực sự cần dựng nhà; việc chặt bao nhiêu, lấy cây nào phải được cả bản đồng thuận; gỗ mang về chỉ phục vụ nhu cầu trong bản, tuyệt đối không đem trao đổi hay mua bán ra ngoài. Chỉ quy ước bằng miệng nhưng được duy trì bền bỉ qua nhiều thế hệ. Quy ước này được nhắc nhở nhiều lần trong các buổi họp bản, trong câu chuyện của người già và lời răn dạy của cha mẹ dành cho con cái. Ai ai cũng răm rắp nghe theo nên trẻ em khi lớn lên cũng đều được nhận thức rằng rừng là tài sản chung, là nguồn sống của cả cộng đồng chứ không thuộc về riêng ai.
Ông Quang Văn Đồng (trú bản Hốc, xã Hùng Chân) chia sẻ, từ bao đời nay, người dân bản Hốc vẫn truyền nhau bản hương ước giữ rừng là giữ nước cho ruộng, giữ đất cho nương, giữ bình yên cho bản làng. Trong suy nghĩ của người dân, giữ rừng không phải là khẩu hiệu, càng không phải là nghĩa vụ mang tính hình thức, mà là trách nhiệm tự thân đối với tổ tiên và các thế hệ mai sau.
Năm 2005, cộng đồng quyết định đưa lời thề truyền đời thành hương ước bằng văn bản. Từng hộ dân ký tên cam kết và giao trưởng bản lưu giữ. Năm điều nghiêm cấm được ghi rõ: không lấn chiếm đất rừng; không phát nương làm rẫy; không khai thác lâm sản bừa bãi; không dùng lửa trong rừng; không săn bắt động vật quý hiếm.
Để thực hiện bản hương ước bằng giấy này, 60 hộ dân trong bản chia thành 6 nhóm, luân phiên tuần tra mỗi tháng. Nếu nhóm nào lơ là, để xảy ra việc mất gỗ sẽ bị bản xử phạt. Mỗi tháng hai lần, với sự phối hợp của chính quyền và kiểm lâm, tổ tuần tra gồm khoảng chục người mang theo gạo, nước, võng ngủ lại giữa rừng 2-3 ngày để làm nhiệm vụ.
Ông Quang Văn Hạnh (70 tuổi, trú bản Hốc) cho biết, để hương ước được duy trì, những người tuần tra đi dọc lối mòn, quan sát từng gốc cây, kiểm tra dấu vết lạ. Nếu phát hiện bất thường, hình ảnh sẽ được ghi lại làm căn cứ xử lý. Công việc ấy dù âm thầm nhưng đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của bản. Giữ rừng giờ không phải việc riêng của ai, đến phiên là đi, không ai trốn tránh cả.
Tổ quản lý rừng bản Hốc cùng với cán bộ kiểm lâm tuần tra kiểm soát rừng.
Vượt qua thách thức và tồn tại với thời gian
Dù có hương ước nhưng trải qua thời gian, vượt qua bao thế hệ, cánh rừng ở bản Hốc trải qua nhiều thách thức. Những năm 1990 - 2000, khi không ít cánh rừng ở các địa phương lân cận bị khai thác ồ ạt, từng đoàn xe chở gỗ nối nhau rời núi, để lại phía sau những sườn đồi trơ trọi. Khu rừng già ở bản Hốc cũng không tránh khỏi những dao động trước áp lực mưu sinh.
Thời điểm đó, trong những cuộc họp bản kéo dài đến khuya, những bậc cao niên trong bản lại nhắc đi nhắc lại: “Rừng mất thì nước mất. Nước mất thì con cháu sống sao”. Từ những lời răn dạy ấy, cánh rừng già ở bản Hốc tiếp tục được các thế hệ tiếp tục giữ gìn.
Theo ông Quang Văn Hạnh, việc dựng một ngôi nhà mới không chỉ là chuyện riêng của một gia đình. Họ phải trình bày rõ nhu cầu bức thiết của mình và được sự đồng thuận của dân bản mới được vào rừng chọn cây làm nhà. Số lượng cây chặt hạ được tính toán dựa trên diện tích nhà, không thừa, không thiếu; gỗ chỉ dùng trong bản, tuyệt đối không mua bán, trao đổi ra ngoài. Chính sự nghiêm túc trong thực hiện đã tạo nên “hàng rào” bảo vệ rừng vững chắc.
Trải qua nhiều thế hệ, ý thức giữ rừng dần trở thành nếp nghĩ, ăn sâu vào đời sống tinh thần của mỗi người dân. Trẻ em lớn lên cùng những câu chuyện về rừng như nghe kể chuyện về nguồn cội. Người già coi rừng là báu vật tổ tiên để lại. Thanh niên xem những chuyến tuần tra không chỉ là nhiệm vụ, mà là trách nhiệm đối với cộng đồng. Giữ rừng vì thế không còn là khẩu hiệu, mà là lựa chọn tự nhiên của cả bản làng.
Với người bản Hốc, rừng còn là bể chứa nước khổng lồ nuôi sống thung lũng. Nước từ rừng đổ về tưới mát những thửa ruộng dưới chân núi, giúp lúa xanh quanh năm. Mùa mưa, tán rừng dày giữ đất, hạn chế xói mòn, giảm nguy cơ lũ ống, lũ quét. Mùa nắng, rừng giữ ẩm cho suối không cạn dòng. Nhờ được bảo vệ nghiêm ngặt, gần 200 ha rừng nguyên sinh vẫn còn nhiều cây sến, táu, de cổ thụ, thân to vài người ôm không xuể. Dưới tán rừng là hệ sinh thái phong phú với chim rừng, chồn, mang, khỉ, lợn rừng… Người dân khai thác lâm sản phụ có chừng mực: hái măng, lấy mật ong, thu hái cây thuốc, gom củi khô… mang lại nguồn thu đáng kể. Tuy nhiên, số lượng khai thác được tổ bảo vệ rừng nhắc nhở để đảm bảo tái sinh cho những mùa sau.
Năm 2014, khi có chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên được thực hiện trên phạm vi cả nước thì những thân gỗ lớn ở rừng Pù Hốc được bảo vệ tuyệt đối, diện tích rừng ngày càng phát triển xanh tốt. Ngày nay, với gần 200 ha rừng được bảo vệ tốt, cộng đồng bản Hốc được hưởng chính sách hỗ trợ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo với hơn 73 triệu đồng. Khoản tiền ấy không lớn nếu chia đều cho từng hộ, nhưng là sự ghi nhận cho tinh thần tự quản bền bỉ và ý thức gìn giữ rừng của cộng đồng.
Dương Hóa
Nguồn CAĐN : https://cadn.com.vn/nguoi-thai-giu-rung-bang-huong-uoc-truyen-doi-post339535.html