Béo phì không còn là vấn đề thẩm mỹ mà là nguy cơ sức khỏe
Theo các chuyên gia, trên toàn cầu, gánh nặng béo phì đang gia tăng nhanh chóng với hơn 1 tỷ người đang sống chung với căn bệnh mạn tính này. Ước tính đến năm 2035, hơn 50% dân số toàn cầu sẽ mắc béo phì.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), Việt Nam có khoảng 19,5% dân số (tương đương 20 triệu người) bị thừa cân – béo phì (BMI >= 25 kg/m2).
Tỷ lệ béo phì ở nước ta gia tăng nhanh, từ 2,6% năm 2010 lên đến 3,6% năm 2014, tương đương với tốc độ tăng là 38%, thuộc mức cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Ước tính đến năm 2035, tỷ lệ người trưởng thành mắc béo phì có tốc độ tăng ở mức 6,3%/năm và ở trẻ em, con số này thậm chí lên đến 9,8%/năm.
Gánh nặng béo phì đang gia tăng nhanh chóng với hơn 1 tỷ người đang sống chung với căn bệnh mạn tính này. Ước tính đến năm 2035, hơn 50% dân số toàn cầu sẽ mắc béo phì.
Các chuyên gia cho hay, béo phì thường được nhìn nhận là vấn đề thẩm mỹ thay vì nguy cơ sức khỏe, trong khi bệnh có thể liên quan đến các biến chứng tim mạch, chuyển hóa và hô hấp. Béo phì là một trong những bệnh không lây nhiễm đang tạo gánh nặng lớn khi có đến 229 bệnh lý và biến chứng liên quan đến béo phì.
"Béo phì liên quan chặt chẽ đến nhiều biến chứng đáng lo ngại: tỷ lệ trào ngược dạ dày – thực quản là 35%, hội chứng ngưng thở khi ngủ 40%, tăng huyết áp 51%, thoái hóa khớp gối 52%, và đái tháo đường là 21%. Ngoài ra, người béo phì còn có nguy cơ suy tim sung huyết, đột quỵ và bệnh tim thiếu máu cục bộ..." - PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Đào, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường TP. Hồ Chí Minh cảnh báo thông tin tại livestream trực tuyến nhằm tuyên truyền về bệnh lý béo phì tại Việt Nam.
Cùng đó, theo PGS Đào, béo phì tồn tại những thích ứng chuyển hóa và sinh học khiến bệnh trở nên dai dẳng. Khi đã mắc béo phì, cơ thể sẽ kích hoạt nhiều cơ chế đáp ứng khác nhau làm thúc đẩy tăng cân trở lại. Vì vậy, quản lý béo phì lâu dài cần các biện pháp can thiệp có khả năng giải quyết những thích ứng chuyển hóa này.
Có 24% bệnh nhân tin rằng việc quản lý cân nặng hoàn toàn là trách nhiệm cá nhân, hoặc cho rằng nhân viên y tế không thể giúp họ, hay họ không đủ khả năng tài chính để điều trị. Ở chiều ngược lại, 39% nhân viên y tế cảm thấy không thoải mái khi trao đổi về cân nặng, trừ khi bệnh nhân chủ động trước bởi văn hóa và quan niệm không muốn can thiệp vào chuyện riêng tư của người khác
PGS.TS. Hồ Thị Kim Thanh, Giám đốc Trung tâm Y học gia đình và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội – Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, Liên đoàn Béo phì Thế giới định nghĩa béo phì là một bệnh mạn tính, tái phát và tiến triển.
"Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải hành động ngay trong quản lý, điều trị, dự phòng và kiểm soát bệnh. Vì là bệnh mạn tính kéo dài, mục tiêu điều trị không chỉ là giảm cân mà còn phòng ngừa các biến chứng. Trong đó, đích đến rõ ràng chính là kiểm soát cân nặng và các chỉ số cơ thể"- PGS Thanh bày tỏ.
Khoảng một nửa số cân đã giảm có thể tăng lại trong vòng 2 năm
Các biện pháp thay đổi lối sống thường chỉ giúp giảm cân ở mức khiêm tốn...
Cũng theo PGS Hồ Thị Kim Thanh, quan niệm về việc tiết chế tiêu hao năng lượng và tăng cường vận động có thể giúp giảm cân rất phổ biến. Tuy nhiên, lúc này, cơ thể sẽ kích hoạt cơ chế thích nghi để tiết kiệm năng lượng.
"Sau giai đoạn can thiệp, nếu quay lại chế độ bình thường, người bệnh dễ rơi vào 'hiệu ứng quả lắc', tăng cân trở lại. Thống kê cho thấy khoảng một nửa số cân đã giảm có thể tăng lại trong vòng 2 năm, và trên 80% có thể tăng lại trong vòng 5 năm"- PGS. Thanh nêu thực trạng.
Bà cũng dẫn chứng từ thực tiễn, các biện pháp thay đổi lối sống thường chỉ giúp giảm cân ở mức khiêm tốn, khoảng 3-5%. Chế độ ăn và tập luyện đơn thuần thường giảm dưới 5% cân nặng. Vì vậy, và duy trì cân nặng bền vững thì sẽ cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống, nhiều trường hợp cần thêm các liệu pháp hỗ trợ, bao gồm điều trị bằng dược phẩm.
Cùng đó, nhiều phương pháp giảm béo tại spa chủ yếu tác động lên mỡ ngoại vi, có thể làm thay đổi vòng eo nhanh chóng nhưng không làm giảm mỡ nội tạng, trong khi đây lại là yếu tố quan trọng. Do đó, những phương pháp này không mang lại lợi ích thực sự cho sức khỏe.
Thăm khám và can thiệp sớm béo phì, giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm
Tại buổi truyền thông, các chuyên gia y tế nhấn mạnh, nâng cao nhận thức đúng về bản chất bệnh béo phì là bước khởi đầu quan trọng để thúc đẩy hành động.
Khi người bệnh hiểu rõ nguy cơ và gánh nặng của béo phì, họ sẽ chủ động thăm khám và can thiệp sớm, từ đó giảm nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch và các biến chứng lâu dài. Việc này có ý nghĩa chiến lược trong giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm, tối ưu chi phí y tế dài hạn và cải thiện năng suất lao động của xã hội.
ThS.BS Trương Lê Vân Ngọc - Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho hay, để hỗ trợ điều trị béo phì, năm 2022 lần đầu tiên tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn chính thức về chẩn đoán và điều trị béo phì. Hướng dẫn này bao gồm các biện pháp thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng, tăng cường vận động, sử dụng thuốc và trong một số trường hợp có thể cần đến can thiệp phẫu thuật.
Hiện Bộ Y tế đang tiếp tục phối hợp với các hội chuyên ngành để cập nhật hướng dẫn điều trị béo phì cho người lớn, cũng như xây dựng hướng dẫn riêng cho trẻ em và vị thành niên.
Năm 2022 lần đầu tiên tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn chính thức về chẩn đoán và điều trị béo phì.
Việt Nam đang thúc đẩy cách tiếp cận chủ động trong phòng chống bệnh không lây nhiễm. Chiến lược quốc gia giai đoạn tiếp theo sẽ nhấn mạnh dự phòng, quản lý liên tục theo vòng đời và tạo môi trường thuận lợi để người dân tăng cường vận động, kiểm soát thừa cân – béo phì. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà cần sự phối hợp đa ngành, từ chính sách công, giáo dục, truyền thông đến sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp công-tư nhằm tạo nền tảng thúc đẩy nâng cao nhận thức, khuyến khích người bệnh chủ động can thiệp sớm để quản lý bệnh.
Thái Bình