Nhà thơ cầm súng và những câu thơ từ chiến hào
Nguyễn Đức Mậu nhập ngũ từ năm 18 tuổi (1966), từng được giải thơ Báo Văn Nghệ năm 1972-1973 cùng các tên tuổi Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm. Thơ ông đi theo một lối riêng, kín đáo và bình dị, lặng lẽ mà bền bỉ, ngày càng dày thêm về nội lực, sâu sắc về cách nhìn đời sống. Trải qua hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, Nguyễn Đức Mậu vẫn không ngừng có thêm những tác phẩm mới, được bạn đọc chào đón.
Còn nhớ chùm thơ được giải Báo Văn Nghệ của ông năm đó gồm ba bài: Ghi ở chiến trường, Đôi mắt và Đất. Thế nhưng trong Tuyển thơ Nguyễn Đức Mậu (NXB Hội Nhà văn 2023) do đích thân ông tuyển chọn gần đây nhất, không hề có ba bài thơ trên. Điều này như bày tỏ một quan điểm riêng của tác giả khi nhìn lại hành trình thơ mình. Chùm thơ đầu tay tuy sớm được ghi nhận nhưng vẫn chưa phải quả chín của Nguyễn Đức Mậu.
Dấu mốc quan trọng đầu tiên trong sự nghiệp thơ của ông phải kể đến là Nấm mộ và cây trầm, một bài thơ dài gồm 12 khổ, chia làm 3 khúc, mang dáng dấp của một trường ca. Hùng, nhân vật trữ tình trong bài thơ đã trở thành một trong những biểu tượng bi tráng, hào hùng, mãnh liệt của thơ chống Mỹ: Cái chết bay ra từ nòng súng quân thù/ Nhận cái chết cho đồng đội sống/ Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng/ Lửa bén vào áo lính tuổi hai mươi/ Chết - Hy sinh cho Tổ quốc, Hùng ơi/ Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất/ Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc/ Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng...
Cây trầm là hình tượng độc đáo trong bài thơ, vừa mở đầu vừa kết thúc tác phẩm, như một sự tưởng nhớ đầy thiêng liêng về người chiến sĩ vừa ngã xuống. Cây trầm giống như cây hương của trời đất tiễn biệt một con người: Cây trầm cháy dở thay nén nhang/…Cây trầm thơm từ gốc thơm ra/ Như nhắc nhở với người đang sống…
Khác với nhiều nhà thơ khác thuộc lứa chống Mỹ, Nguyễn Đức Mậu cầm súng trực tiếp chiến đấu, là lính bộ binh của Sư đoàn 312, thơ ông vì thế là thơ của một người trong cuộc, chân thực và sống động, nhất là khi viết về những gian khổ hy sinh: Người nằm nghiêng súng cũng nằm nghiêng/ Người ngủ ngồi súng ôm ghì trước ngực/ Từng tiểu đội trong khi nằm ngủ/ Đôi chân vạn dặm vẫn mang giày (Ngủ theo đội hình đánh giặc).
Nếu như trong Nấm mộ và cây trầm, Nguyễn Đức Mậu nhắc đến tên cụ thể của đồng đội mình thì phong cách này còn trở đi trở lại trong những bài thơ khác của ông. Những cái tên riêng cho chúng ta cảm giác trần trụi về hiện thực của một cuộc chiến đầy khốc liệt: Đêm Thành cổ chiến hào ngập nước/ Hòm đạn kê cao ghép lại thành giường/ Thằng Bường bị thương, hai bàn chân bom tiện đứt/ Dòng máu hòa với nước mưa tuôn/ Bường kêu khát, mưa rơi đầy bát sắt/ (nước chiến hào xác chuột trộn phân người)/ Dưới ánh đèn dù khuôn mặt Bường nhợt nhạt/ Đôi mắt in chớp lửa rạch ngang trời/…Tôi gọi cả hai bàn chân đã mất/ Hai bàn chân lạc trong hố bom cày/ Đêm Thành cổ mưa rơi lấp mặt/ Tôi ôm Bường rụng buốt cả vòng tay… (Đêm Thành cổ năm 1972).
Nếu không phải là người cấm súng trực tiếp chiến đấu, tôi cho rằng khó có thể viết ra được những câu thơ với độ chi tiết như vậy về cuộc chiến. Gọi tên đồng đội cũng là một cách để ghi khắc sâu hơn nữa những năm tháng đã đi qua trong cuộc đời mình. Nhà thơ Chính Hữu cũng từng có những câu thơ gọi tên đồng đội trong thời kỳ chống Pháp: Bên trái Lò Văn Sự/ Bên phải Nguyễn Đình Ba/ Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự/ Có phải các anh vẫn còn đủ cả/ Trong đội hình đại đội chúng ta? (Giá từng thước đất).
Sau này, Nguyễn Đức Mậu còn tiếp tục viết về sự hy sinh của đồng đội với những tứ thơ độc đáo. Chẳng hạn ông viết về sự hy sinh của những chiến sĩ phi công, những người xương thịt đã tan vào bầu trời: Hà Nội một đêm B52 khốc liệt/ Những cánh bay mặt đất phóng lên trời/ Anh cháy sáng, anh nổ tung thiên thạch/ Anh hóa thành vệt chớp, ánh sao rơi/…Một nén hương trầm một nhành hoa trắng/ Ước chi tôi thả ngược lên trời (Nhìn trời).
Người lính của thời hậu chiến còn đi vào thơ Nguyễn Đức Mậu với những xa xót khác. Thế nên mới có tình huống trớ trêu khi người cựu chiến binh một ngày trở về quê cũ và ngồi trước mộ mình, những người thân yêu đã mang theo nỗi đau mất ông vào lòng đất: Bốn mươi năm/ Mẹ cha ông lúc xuôi tay nhắm mắt/ Mong nằm cạnh con mình/ Mộ ông: chiếc tiểu sành không hài cốt/…Bao người chết. Chỉ mình ông sống sót/ Hơn bốn mươi năm ốm đau lưu lạc/ Người phế binh ngồi trước mộ mình (Người ngồi trước mộ mình).
Thơ trở về với đời thường và những ân tình sâu lắng
Bên cạnh những bài thơ về đề tài chiến trận, Nguyễn Đức Mậu còn có những bài thơ với cảm hứng đời thường. Ông viết về tình cảm gia đình, viết về người mẹ ở thôn quê với nhiều nỗi day dứt của một đứa con xa nhà: Ta mặc áo phố phường, giọng nói dần đổi khác/ mỗi năm đôi lần về thăm quê/ mỗi năm đôi lần ta gặp mẹ/ tóc trắng ngút ngàn tay run gậy tre/…Mỗi năm đôi lần được hái trầu dâng mẹ/ cây cau đầu sân sai quả bao mùa/ cái cơi đựng trầu, cái bình vôi cũ/ như nhập vào dáng mẹ già nua/ Ta chẳng được làm ngọn đèn khuya an ủi mẹ/ mẹ vẫn suốt đời nhen lửa ấm cho ta (Mẹ).
Ông viết về khung cảnh làng quê yên bình của thời đã không còn tiếng súng, chỉ có những đàn bò thong thả trên đồng cỏ hoàng hôn. Một bức tranh tuyệt đẹp nhưng nó cũng gợi nhắc cho ta một điều, để có được sự thanh bình ấy, cái giá mà chúng ta phải trả là không hề nhỏ: Đàn bò vàng trên đồng cỏ xa xanh/ gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều còn sót lại/…Có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải/ túi áo gói đầy hương cỏ thơm/ trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ/ đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non…(Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn). Cái tự sự im lặng cùng con bò, chúng ta còn có thể bắt gặp trong thơ Nguyễn Khoa Điềm như một đồng điệu: Nhưng chiều nay, con bò gặm cỏ/ Bên dòng sông như chưa biết chiều tan/ Tôi với nó lặng im, bè bạn/ Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương giang (Chiều Hương giang).
Chất lắng sâu đằm thắm mà khắc khoải ân tình trong thơ Nguyễn Đức Mậu còn in dấu trong những bài thơ ông viết về bạn văn, những người anh thân quý trong ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế mà ông đã gắn bó cả cuộc đời công tác của mình: Tôi còn nhớ những câu thơ anh viết/ Một nỗi niềm riêng chốn chợ chiều/…Cuộc đời anh bao nỗi ưu phiền/ Tôi chưa thấu. Thơ anh thì tôi nhớ/ Những câu thơ ngỡ lãng quên chợt xanh lên màu cỏ/ Cỏ ở non cao, dưới gót giày (Nhớ anh Duy Khán); Một Thu Bồn cây lim săn chắc/ một Thu Bồn huyết áp tuổi già/ một Thu Bồn thơ, một Thu Bồn trường ca/ một Thu Bồn mong manh dễ vỡ/ Ôi buổi chiều mưa rơi thật buồn/ tôi nhìn vào mắt ông/ thấy mắt mình thấm ướt… (Lần cuối với Thu Bồn).
Thời bình, bàn chân Nguyễn Đức Mậu đi nhiều hơn đến các vùng miền của Tổ quốc để ghi lại những cảm xúc, ấn tượng, suy nghĩ của mình về quê hương và con người ngày hôm nay: Một tiếng chim vườn xanh lá ngâu/ Cũng rơi sợi nắng mịn trên đầu/ Ở đây nhiều nắng hơn nơi khác/ Quấn quít tơ trời vương lá dâu (Đất Thuận Vi); Và Sa Pa mến yêu ơi/ Tôi cùng con suối nối lời ngày xuân/ Có hoa có lá gieo vần/ Trời cao trang giấy trắng ngần mây bay (Trên đỉnh Sa Pa); Trong bát rượu ta cầm như thấp thoáng/ Mây trắng, sương mù và bóng áo chàm xanh/ Ngoài quán rượu đỉnh trời lóa nắng/ Con bò cày trên dốc đá chênh vênh (Uống rượu ở Mèo Vạc).
Nguyễn Đức Mậu còn có một mảng thơ dành cho thiếu nhi. Bài thơ Hành trình của bầy ong nhiều năm qua vẫn nằm trong sách giáo khoa ngữ văn dành cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Những câu thơ trong trẻo tươi tắn như lòng tin yêu với cuộc đời, là niềm lạc quan bất tận hướng về sự sống và tương lai: Bầy ong giữ hộ cho người/ Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày/ Vầng trăng dâng đĩa mật đầy/ Trời sao hóa cánh ong bay lưng trời/ Đêm nay như thức cùng tôi/ Bầy ong - con chữ nói lời bài ca.
Cháy mãi “màu hoa đỏ”
Bên cạnh thơ, Nguyễn Đức Mậu còn có những đóng góp quan trọng ở thể loại trường ca. Ông có ba trường ca tiêu biểu là Trường ca Sư đoàn, Trường ca Côn Đảo và Mở bàn tay gặp núi. Trong số đó, Sư đoàn là tác phẩm trường ca đầu tiên, có dung lượng dài nhất (2.500 câu thơ) và cũng nổi tiếng nhất của ông: Tổ quốc là tấm áo lính sờn vai/ Mặc áo lính chúng tôi thành người lính/ Bạn tôi ngã trước tầm đạn bắn/ Màu áo xanh gói trọn hình hài/ Suối rừng Lào cây cháy, lá đen rơi/ Có điệp trùng màu xanh thân thuộc/ Nhìn màu áo tôi nhận ra Tổ quốc/ Tổ quốc chia thân chắn đạn ở phương này…
Cho đến trọn cuộc đời của mình, Nguyễn Đức Mậu luôn là một nhà thơ mặc áo lính. Thơ ông càng đọc càng cảm nhận rõ sự bình dị mà lắng đọng sâu sắc, như hương trầm thoang thoảng nhẹ nhàng mà vấn vít quyến luyến tha thiết không rời.
Xin được khép lại bài viết tưởng nhớ ông bằng những câu hát trong nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Thuận Yến mà Nguyễn Đức Mậu đã đóng góp trọn vẹn phần ca từ, được công chúng cả nước yêu mến suốt 35 năm qua: Dòng tên anh khắc vào đá núi/ Mây ngàn hóa bóng cây che/ Chiều biên cương trắng trời sương núi/ Mẹ già mỏi mắt nhìn theo/ Việt Nam ơi Việt Nam/ Núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con/ Việt Nam ơi Việt Nam/ Ngọn núi nơi anh ngã xuống/ Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa/ Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn… (Màu hoa đỏ).
ĐỖ ANH VŨ