Đức Phật ngày xưa đã dựa trên nguyện lực mà dũng mãnh phi thần mã Kiền Trắc vượt thành Ca-tỳ-la. Sáu năm ở Khổ hạnh lâm không một phút thối chuyển, mượn cỏ kusa làm tòa bồ-đề, lấy cung thiền định, kiếm trí tuệ làm vũ khí tuyên chiến với ma quân, lập thệ kim cương: “Nếu không thành đạo, ta quyết không rời khỏi tòa này”. Cuối cùng ngài chiến thắng nội ma lẫn ngoại chướng, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tất cả đều từ nguyện lực kiên cố mà nên vậy.
Nương theo nguyện lực của Đức Phật, chư vị Bồ-tát và Thánh Tăng cũng đều lập hạnh, lập nguyện trên bước đường tu tập và giáo hóa chúng sanh. Dũng mãnh. Kiên cố. Phi thường. Bồ-tát Phổ Hiền, vị Bồ-tát của trí đức và hạnh nguyện rộng độ chúng sanh đã tuyên thệ:
Cho đến hư không, thế giới tận
Chúng sanh, nghiệp và phiền não tận
Dù bốn pháp ấy rộng vô biên
Nguyện này mãi mãi hằng vô tận.
Phổ Hiền hạnh nguyện
Nối tiếp Bồ-tát, chư vị Thánh Tăng cũng thế. Tôn giả A Nan đối trước Đức Phật đã nguyện: “Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng”. Hư không có thể dứt, nhưng nguyện của con thì vô cùng, không bao giờ chấm dứt. Nguyện chi? Nguyện độ tận chúng sanh. “Như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê-hoàn”. Nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, con thệ chẳng chịu vào Niết-bàn. Sở dĩ quý Ngài có được nguyện lực như thế là nhờ có tâm vương.
Tâm vương tức là tâm Phật. Thiền sư Tĩnh Am nói “Hư không lớn ư? Tâm vương mới lớn. Kim cang cứng ư? Nguyện lực mới cứng”. Tâm này lớn hơn cả hư không, hàm nhiếp dung thông không ngằn không mé, không sanh không diệt, trùm khắp pháp giới linh thông vô ngại. Hư không lớn nhưng là vô tri, còn tâm vương lớn nhưng lại thường tri, thường phát ra diệu dụng như hà sa, lợi ích vô lượng chúng sanh. Chư Tổ đã nhiều lần hé mở cửa tâm vương, mong đợi chúng học nhân bước vào. Nhưng đến nay ngõ này vẫn vắng khách!
Kim cang cứng nhưng là pháp sanh diệt, chỉ phá được các thứ hữu hình hữu hoại. Nguyện lực cứng vì có thể phá sạch gốc mê, mở ra tuệ giác vô thượng, đưa ta thoát khỏi trầm luân sanh tử. Nguyện lực có được từ tâm chân thật nên cũng sẽ đồng thọ mạng với tâm ấy. Tâm chân thật bất sanh bất diệt nên nguyện lực cũng không cùng không tận. Dùng nguyện lực gõ cửa tâm Phật. Nương tâm Phật trưởng dưỡng và thành tựu viên mãn nguyện lực. Con đường ấy Đức Phật đã đi, chư vị Bồ-tát, các bậc Thánh Hiền Tăng cũng đã đi, bao giờ mới tới chúng mình đi?
Thiền gia cho biết, tâm Phật nơi mỗi chúng sanh chính là con mắt tuệ rực sáng trong thân năm uẩn này. Chỉ cần mở mắt ra là ta nhìn thấy, nhận biết. Năng lực nhận biết này là nguồn sống bất tận ta đang sử dụng hàng ngày. Những tiếng nói thì thầm, những cảm thọ nóng lạnh vui buồn chợt đến chợt đi, đều không nằm ngoài sự nhận biết của bản tâm. Cho nên tâm Phật chính là gia tài lớn nhất, duy nhất mà mỗi chúng ta sở hữu, giàu có vô lượng, dùng mãi không hết. Sao ta không thử gõ cửa tâm Phật?
Có một gã hành khất tự dựng túp lều tranh trên mảnh đất nghèo. Gia tài anh chỉ là cái thau bể và một thùng gỗ với những vật dụng linh tinh, không có giá trị gì. Hàng ngày anh mang thùng, cầm thau đi xin ăn. Hôm nào được no là anh cảm thấy vui sướng lắm rồi, không có ý mưu cầu gì hơn.
Hôm nọ, trên đường đi anh gặp một cụ già. Cụ gõ vào thùng gỗ rồi bảo:
- Con nghe lời ta, dẹp cái thùng này và cái thau kia đi. Hãy đào dưới nền đất của con, sẽ có kho báu rất lớn tha hồ tiêu xài, chấm dứt những ngày tháng nghèo đói lang thang.
Gã hành khất không tin, nói:
- Tôi đã quen kiếp sống này rồi, cũng chưa ai chỉ nền đất túp lều tranh nói với tôi những lời như ông.
Tuy anh không tin, nhưng cụ già rất kiên nhẫn, ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại như thế. Ngày qua ngày, anh chàng vẫn sáng chiều chìa cái thau bể xin ăn. Một hôm gặp phải mưa gió, không xin được chi. Vừa đói vừa lạnh, anh chợt nhớ tới lời ông cụ, bèn đào thử nền nhà xem sao. Thật không ngờ, một kho báu hiện ra. Và anh nghiễm nhiên trở thành vị trưởng giả giàu sang không ai bằng.
Câu chuyện cổ tích tưởng như mơ, nhưng lại hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người. Chúng ta thường cho mình phước mỏng nghiệp dày, nên chấp nhận thân phận phàm phu tục tử với nhiều tập nghiệp sâu nặng, không dám mơ tưởng chuyện làm Phật, không tin mình có thể làm Phật. Con người từng đem thân năm uẩn, cầu xin cuộc đời từng chút hư danh bổng lộc, vinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng… chất chứa đầy ắp bả danh cặn lợi. Vậy mà rất vui, rất mãn nguyện với những thứ mà Phật cho là như rác ấy.
Sáng ra, mở mắt thức dậy, ta xỏ dép và mỉm cười vì biết mình vẫn còn sống, còn có thể tự do đi lại trên đôi chân này. Súc miệng rửa mặt, uống một ngụm trà, rồi cùng đại chúng lên thiền đường, đều là đại dụng hiện tiền. Sao ta không có mặt lúc ấy, mà lại lội đi đâu trong quá khứ đã không còn hay tìm về một tương lai mộng mị hão huyền xa xôi? Khổ!
Nhân sinh một đời vất vả, lo toan chuyện được mất, sống còn. Hiếm khi nhìn lại để thấy tài sản, gia đình, sự nghiệp… như áng phù vân nổi trôi giữa trời. Nó đến bằng xương máu một đời người, nhưng đi chỉ trong khoảng chớp mắt. Không ai có thể nắm giữ mọi thứ lâu dài, đừng nói là mãi mãi. Hiểu được các pháp thế gian vô thường hư ngụy, thì ta có nên dừng lại cuộc chạy đuổi vô nghĩa từ nhiều đời? Bởi vì càng lao về phía trước thì càng phí sức, càng mệt mỏi muộn phiền, càng đè nặng lên tâm thức nỗi bất hạnh triền miên. Vượt lên trên tập nghiệp nhiều đời, ta thoát khỏi gọng kềm của ngã chấp và pháp chấp, mới có thể quay về nhận lại kho báu vô giá nằm ngay nơi thân tâm năm uẩn này.
Chúng ta vì quên kho báu nhà mình, nên không biết đào xới lấy ra để tận hưởng đời sống giàu có, an lạc. Mình dại khờ từ chối những hạnh phúc giản dị đơn sơ, luôn có mặt trong từng hoạt dụng thi vi. Sáng ra, mở mắt thức dậy, ta xỏ dép và mỉm cười vì biết mình vẫn còn sống, còn có thể tự do đi lại trên đôi chân này. Súc miệng rửa mặt, uống một ngụm trà, rồi cùng đại chúng lên thiền đường, đều là đại dụng hiện tiền. Sao ta không có mặt lúc ấy, mà lại lội đi đâu trong quá khứ đã không còn hay tìm về một tương lai mộng mị hão huyền xa xôi? Khổ!
Kinh Đại bảo tích, Phật dạy trên con đường thực hành tịnh hóa chính mình, mỗi chúng ta đều thấy sự yếu đuối trì trệ của thân tâm mà nỗ lực tu tập chuyển hóa. Con đường này mặc dù đích đến thì vinh quang vô cùng, nhưng khó khăn trắc trở cũng vô vàn, rất nhiều gian khổ, thách thức. Nếu ta không dùng nguyện lực quyết tâm khai phá thì sao có thể vượt qua được.
Con đường Bồ-tát là con đường thực hành. Thực hành cho chính mình, đồng thời thực hành vì người khác. Đó là con đường an vui nhưng rất khó đi. Cho nên cần phải lập nguyện, lập hạnh. Đức Đại giác đã mở đường, chúng ta chỉ cần lên đường. Tận lực bình sinh. Đời này tu không xong, đời sau tiếp tục. Lập hạnh, lập nguyện không thoái chuyển. Giờ nào cũng đoạn trừ phiền não, ở đâu cũng có Phật trong tâm, lòng luôn sáng tỏ tịnh thanh, không lầm lẫn vướng mắc bất cứ thứ gì.
Tứ hoằng thệ nguyện vì thế chính là sức mạnh vô song cho muôn vạn người con Phật thẳng tiến đến bến bờ giải thoát an vui.
Hạnh Chiếu/Báo Giác Ngộ