Tiến sĩ Lê Xuân Huyên - Phó Tổng Giám đốc Phụ trách Ban Điều hành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia (Petrovietnam) phát biểu tại hội thảo
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Tiến sĩ Lê Xuân Huyên - Phó Tổng Giám đốc Phụ trách Ban Điều hành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia (Petrovietnam) nhận định, trong bối cảnh thị trường năng lượng quốc tế biến động mạnh và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc xây dựng Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất là một nhiệm vụ cấp thiết, chiến lược. Vì thế, hội thảo có ý nghĩa khoa học quan trọng trong việc tập hợp ý kiến từ cơ quan quản lý, giới chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp, qua đó tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn và các đề xuất chính sách cho quá trình xây dựng Trung tâm trong thời gian tới.
Ông Đặng Hải Anh, Phó Vụ Trưởng Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương) cho biết, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị gia nêu rõ về việc "mở rộng và xây dựng trung tâm lọc, hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất"; đồng thời Quyết định số 215/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng định hướng "triển khai hoàn thành Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hình thành Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất". Việc hình thành Trung tâm cần được đặt trong tổng thể bài toán an ninh năng lượng quốc gia.
Việt Nam là một nền kinh tế phát triển nhanh, việc tiêu thụ điện, tiêu thụ năng lượng và nhu cầu xăng dầu đều gia tăng mạnh. Trong khi đó, sản lượng dầu thô, khí tự nhiên trong nước có xu hướng suy giảm, buộc Việt Nam phải mở rộng nhập khẩu năng lượng ở quy mô lớn hơn. Trong bối cảnh đó, Bộ Công Thương nhìn nhận Dung Quất không chỉ như một địa điểm công nghiệp đơn lẻ, mà là một không gian phát triển tích hợp, gắn lọc hóa dầu với khí, LNG, điện và năng lượng tái tạo.
"Trong việc hình thành và phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia, NMLD Dung Quất sẽ là hạt nhân", ông Đặng Hải Anh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Tư, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cũng cho rằng nên: "lấy NMLD Dung Quất làm hạt nhân để tích hợp sâu và mở rộng chuỗi giá trị lọc - hóa dầu, kết nối với các lĩnh vực năng lượng và công nghiệp phụ trợ". Theo tham luận của VPI, cấu hình dự kiến của Trung tâm được xây dựng với 5 hợp phần, trong đó hợp phần đầu tiên là Trung tâm lọc hóa dầu và kho dự trữ, gắn với NMLD Dung Quất (NCMR), hóa dầu từ khí, Cá Voi Xanh/dầu thô và các dự án kho dự trữ. Trên sơ đồ cấu hình, NMLD Dung Quất được đặt ở lớp nền của tổ hợp, sau đó mới kết nối sang các cụm năng lượng sạch, năng lượng xanh, công nghiệp xanh và logistics - dịch vụ. Cách tổ chức không gian và chuỗi dự án trong tài liệu VPI cho thấy NMLD Dung Quất được xem là điểm khởi đầu của mô hình tích hợp.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam: Việc hình thành Trung tâm tại Dung Quất không chỉ nhằm mở rộng năng lực sản xuất, mà còn phải hướng tới nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu và năng lực điều tiết năng lượng của Việt Nam
Cần có cơ chế đặc thù cho Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia
Ở góc nhìn từ địa phương, Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi cũng nêu quan điểm Trung tâm được định hướng phát triển tại KKT Dung Quất trên cơ sở phát huy nền tảng sẵn có của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và các dự án công nghiệp, năng lượng hiện hữu; Đồng thời, sẽ phát triển theo hướng hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ "lọc hóa dầu - hóa chất - năng lượng - logistics" và đề xuất một loạt chính sách ưu đãi về đầu tư, tài chính, giao đất, thuế... Ban Quản lý KKT Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi cũng nêu quan điểm, trong dự án này, vai trò dẫn dắt, kết nối của Petrovietnam, BSR là rất quan trọng.
Cũng tại hội thảo, đại diện Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đã trình bày tham luận nêu rõ việc xây dựng một gói cơ chế đặc thù linh hoạt và phù hợp với tính chất rất đặc biệt của Trung tâm. Theo tham luận của BSR, các dự án trong Trung tâm đều có quy mô vốn lớn, công nghệ phức tạp, thời gian chuẩn bị và thu hồi vốn kéo dài, trong khi lại chịu tác động rất mạnh từ biến động thị trường, công nghệ và chính sách. Vì vậy, BSR đề xuất cần có danh mục ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược; áp dụng ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn toàn bộ tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển; miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào. Đồng thời cho phép triển khai thủ tục đầu tư đặc biệt để rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án. BSR cũng kiến nghị xây dựng cơ chế bán điện dư thừa trong nội khu, nới hạn mức tín dụng, cơ chế tín chỉ carbon, quỹ đầu tư mạo hiểm và một quy hoạch tổng thể riêng cho Trung tâm để bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Tham gia đóng góp ý kiến phản biện tại Hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nêu quan điểm, việc hình thành Trung tâm tại Dung Quất không chỉ nhằm mở rộng năng lực sản xuất, mà còn phải hướng tới nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu và năng lực điều tiết năng lượng của Việt Nam trước những biến động ngày càng phức tạp của thị trường năng lượng thế giới. Việc hình thành Trung tâm cần tích hợp cả lọc hóa dầu, khí, LNG, điện, năng lượng tái tạo, logistics, môi trường và cơ chế đầu tư đặc thù. Vì vậy, có cơ chế đủ linh hoạt cho các dự án động lực, hạ tầng dùng chung và các lĩnh vực năng lượng mới.
Ông Đỗ Tâm Hiển, Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, việc xây dựng Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Dung Quất đã có cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn. Theo ông, trong nhiều năm qua, Khu kinh tế Dung Quất luôn là động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó, BSR có đóng góp rất lớn cả về sản xuất công nghiệp, đóng ngân sách và lan tỏa phát triển. Tỉnh Quảng Ngãi sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan để từng bước định hình mô hình, cơ chế và lộ trình triển khai theo hướng thuận lợi, khả thi và hiệu quả nhất theo chỉ đạo của Chính phủ.
AT