Đường dẫn vào ngôi đình đặc biệt.
1. Thời xưa, khuôn viên của Nhà thờ 12 tộc rộng hơn 3.000 mét vuông. Suốt cả thế kỷ 20, Nhà thờ 12 tộc nằm ngay bạn hạn (vùng giáp ranh) của làng La Qua và Bồng Lai (sau khi tách làng), nhìn ra cánh đồng lúa và ao hồ. Điểm tiếp giáp là lũy tre và miếu Thành hoàng La Qua cũ, trước khi bị đập bỏ hồi thập niên 1980.
Miếu Thành hoàng thì tọa lạc ở vị trí gần như là bạn hạn của làng La Qua với thị trấn Vĩnh Điện. “Rằng xa chỗ ngõ cũng xa/ Rằng gần, Vĩnh Điện, La Qua cũng gần” (ca dao).
Ở xứ Quảng ngày xưa, miếu, đình, chùa thường nhìn ra cánh đồng, dòng sông… nghĩa là không bị che khuất tầm mắt; mà người dân khi làm nhà, cũng sẽ chủ động né mặt tiền và hướng cây đòn đông của miếu, đình, chùa.
Ngày nay điều này ít còn được tôn trọng hoặc gìn giữ, nên xây dựng khá “tự do”, nhiều ngôi nhà, hàng quán đã án ngữ ngay mặt tiền của miếu, đình, chùa, trông rất phản cảm. Nhà thờ 12 tộc cũng vậy, với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, chừng 20 năm nữa thôi, khó còn nhận ra vị thế thơ mộng và linh thiêng như đã từng có.
Theo ông Nguyễn Nho Cần (trưởng nhà thờ làng La Qua), Nhà thờ 12 tộc dựng bằng tre lá lần đầu tiên năm nào không nhớ rõ. Chỉ biết sau khi khánh thành miếu Thành hoàng La Qua, thì khởi động làm Nhà thờ 12 tộc. Miếu Thành hoàng La Qua xây dựng từ trước khi vua Gia Long lên ngôi (tức là trước năm 1802).
Nhà thờ 12 tộc ở làng Bồng Lai, xã Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ)
Mở rộng thêm một chút để liên tưởng, đó là năm 1832, vua Minh Mạng quyết định dời Dinh trấn Thanh Chiêm đến làng La Qua, đổi tên là Thành tỉnh Quảng Nam, nhưng người dân quen gọi thành La Qua hoặc đình La Qua, đắp bằng đất.
“Thình thình như cái đình La Qua”, hoặc “Chình ình như cái đình La Qua”- thành ngữ diễn tả sự to lớn. Từ năm 1836, thành La Qua được xây dựng mới bằng gạch. Nghĩa là miếu Thành hoàng La Qua và Nhà thờ 12 tộc ra đời trước cả thành La Qua.
2 . Từ năm 1908, Nhà thờ 12 tộc đã thờ 12 vị tiền hiền/thủy tổ của 12 tộc, nên hành chính và dân chúng thường quen gọi tên như vậy. Đến năm 1946 thờ 17 tộc, từ 2018 thì thờ bài vị của 22 tộc, thế nhưng trong tâm thức và lời ăn tiếng nói của người dân, đa số vẫn quen miệng là Nhà thờ 12 tộc.
Ngày 30/12/2020, nhà thờ này được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh, với tên gọi trong văn bằng là Di tích Nhà thờ Tiền hiền làng La Qua.
Nhà thờ 12 tộc ở làng Bồng Lai, xã Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ) nay là phường Điện Bàn, TP.Đà Nẵng.
Năm 2023, khi khánh thành miếu Thành hoàng La Qua ở vị trí mới, trong biển hiệu miếu Thành hoàng (được cho là sao chép từ Nhà thờ 12 tộc), thấy khắc có 17 tộc là Nguyễn Công, Phạm Hưng, Lê Vĩnh, Nguyễn Nho, Đỗ Văn, Nguyễn Đình, Nguyễn Đức, Nguyễn Văn, Nguyễn Phước, Lương Văn, Võ Văn, Nguyễn Tấn, Ngô Đức, Trần Huỳnh, Mạc Như, Nguyễn Như, Lê Công.
Vì sao kể tên thiếu 5 tộc, dù bài vị thờ thì đủ 22 tộc? Có vài cách cắt nghĩa, nhưng ý sau đây được nhiều người đồng thuận. Đó là 5 tộc này không có mộ tiền hiền tại đất La Qua, nên không có tên trong miếu thờ thành hoàng hoặc miếu thờ tiền hiền.
Nhưng cũng có vài trường hợp ngoại lệ thú vị, ví dụ tộc Trần Huỳnh, dù không có mộ tiền hiền gốc ở đây, vẫn được ghi danh. Số là tiền hiền gốc tộc Huỳnh của ông Nghè Học/Nghè Sách ở Tam Quang, Bình Định (cũ), làm tướng cho Tây Sơn, nên bị tru di tam tộc dưới thời Gia Long, chỉ có 3 người trốn đi được, một người đến La Qua - Điện Minh đổi họ thành Trần Huỳnh, 1 người vào Phan Thiết, 1 người lên Gia Lai đến sau đại án mới quay về Tam Quang, duy trì dòng họ Huỳnh.
Vậy vì sao tộc Trần Huỳnh được làng địa phương đặc cách cho xây mộ tương đương mộ tiền hiền từ đời ông Trần Đệ và sau là con trai Trần Huỳnh Sách (tức là ông Nghè Học)? Có lẽ vì công đức to lớn của tộc Trần Huỳnh với địa phương này, không chỉ ở cấp độ làng xã, trong đó có việc xây dựng nhiều công trình công cộng.
Rất tiếc ngôi hai mộ rất to đẹp này không còn nữa, do ưu tiên đất nông nghiệp và mở đường, nên bị di dời từ đầu thập niên 2000; vị trí mộ ông Nghè Học nay nằm ở ngay vị trí bỏ hoang của quán cà phê Vinahouse, gần cầu chui chỗ cánh đồng, trên đường xuống Hội An.
Trong 6 lần trùng tu Nhà thờ 12 tộc, lần vào năm 1957 là đại trùng tu, xây mới cổng tam quan, bình phong và tiền đường. Ngoài ông Nghè Học, công trình còn có sự góp sức đáng kể của các ông Cửu Phán, Xã Năm, Đỗ Lý, Xã Ái, Phó Tá, Cửu Tải, Án Quằng... Dù đến đất La Qua xưa (rộng hơn làng La Qua, Bồng Lai ngày nay rất nhiều) cũng khá sớm, lại có công lao to lớn và được đặc cách, nhưng tộc Trần Huỳnh vẫn được ghi danh ở vị trí thứ 14 (đúng tuần tự), được có bài vị từ năm 1946. Nếu khắt khe thì trong Nhà thờ 12 tộc không có tộc Trần Huỳnh và nhiều tộc khác cũng được, nhưng tự tình và tín lý dân gian luôn dung chứa, rộng mở.
Chưa đủ thông tin để khẳng định xem ở Điện Bàn hoặc xứ Quảng có bao nhiêu nhà thờ tiền hiền hơn 200 năm, nhưng để có cái tên như Nhà thờ 12 tộc trong tâm thức dân gian thì quả là rất hiếm gặp.
LÝ ĐỢI