Phụ huynh cần theo dõi đúng mốc tăng trưởng để phát hiện sớm chậm tăng trưởng ở trẻ. Ảnh: Medical News Today.
Nhiều phụ huynh hiện nay đặc biệt quan tâm đến việc con có phát triển chiều cao đúng chuẩn hay không, nhất là khi trẻ thấp hơn bạn bè cùng trang lứa. Theo ThS.BS Ngô Thị Mai Phương, Phòng khám Nhi - Tiêm ngừa, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, việc đánh giá cần dựa trên nhiều yếu tố, không chỉ nhìn vào một thời điểm.
Chiều cao của trẻ thay đổi theo từng giai đoạn. Khi mới sinh, trẻ thường dài khoảng 48-50 cm, tuy nhiên chỉ số này phụ thuộc nhiều vào dinh dưỡng thai kỳ nên không có giá trị dự đoán chiều cao khi trưởng thành. Ba giai đoạn quan trọng quyết định tăng trưởng gồm 2 năm đầu đời, thời thơ ấu và dậy thì.
Trong 2 năm đầu, trẻ có thể tăng khoảng 30-35 cm. Mốc 2 tuổi được xem là quan trọng vì có thể giúp dự đoán khoảng 80% chiều cao khi trưởng thành. Từ 2 đến 4 tuổi, trẻ tăng trung bình 5,5-9 cm mỗi năm; từ 4 đến 6 tuổi tăng 5-8,5 cm mỗi năm; sau 6 tuổi, bé trai tăng 4-6 cm/năm, bé gái tăng 4,5-6,5 cm/năm. Ở tuổi dậy thì, trẻ có thể tăng vọt 10-14 cm mỗi năm.
Để xác định trẻ có chậm tăng trưởng chiều cao hay không, trước hết cần đo đúng. Trẻ dưới 2 tuổi đo chiều dài khi nằm; từ 2 tuổi trở lên đo chiều cao đứng với tư thế chuẩn. Sau đó, chỉ số được so sánh với biểu đồ tăng trưởng theo độ tuổi và giới tính.
Theo bác sĩ Phương, trẻ được xem là chậm phát triển chiều cao khi thấp hơn mức trung bình của quần thể trên 2 độ lệch chuẩn. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng cũng là yếu tố quan trọng. Trẻ 2-4 tuổi tăng dưới 5,5 cm/năm; 4-6 tuổi dưới 5 cm/năm; trên 6 tuổi, nếu bé trai tăng dưới 4 cm/năm, bé gái dưới 4,5 cm/năm thì cần đi khám để tìm nguyên nhân.
Nguyên nhân chậm tăng trưởng được chia thành hai nhóm. Nhóm sinh lý gồm trẻ thấp do di truyền hoặc chậm phát triển tạm thời nhưng vẫn bắt kịp khi trưởng thành. Nhóm bệnh lý đáng lo ngại hơn, có thể liên quan đến suy dinh dưỡng, bệnh mạn tính (tim, phổi, thận), rối loạn nội tiết như thiếu hormone tăng trưởng, suy giáp, dậy thì sớm, hoặc bất thường di truyền, xương.
Trong đó, yếu tố di truyền chiếm khoảng 60-80% chiều cao. Phần còn lại phụ thuộc vào dinh dưỡng và vận động. Vì vậy, cha mẹ cần đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dưỡng chất, đặc biệt là canxi theo từng độ tuổi, đồng thời khuyến khích trẻ vận động thường xuyên.
Các môn thể thao như bơi lội, đạp xe được khuyến khích vì hỗ trợ phát triển cơ xương, ít nguy cơ chấn thương. Bơi lội còn giúp cơ thể giãn nở, giảm áp lực lên khớp, từ đó hỗ trợ tăng trưởng chiều cao.
Bác sĩ Phương lưu ý, bổ sung canxi cần đúng nhu cầu. Trẻ dưới 1 tuổi cần khoảng 100-300 mg/ngày; 1-3 tuổi khoảng 700 mg; 4-6 tuổi khoảng 1.000 mg; tuổi dậy thì khoảng 1.300 mg/ngày. Việc bổ sung quá mức có thể gây lắng đọng canxi, dẫn đến sỏi thận hoặc vôi hóa mạch máu.
Để tầm soát sớm, phụ huynh nên theo dõi chiều cao định kỳ, kết hợp đánh giá tiền sử gia đình và đưa trẻ đi khám khi có dấu hiệu bất thường. Các xét nghiệm cần thiết sẽ giúp phát hiện sớm nguyên nhân và can thiệp kịp thời, giúp trẻ phát triển tối ưu.
Nguyễn Thuận