Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm khá thường gặp trong quần thể dân số chung.
Rối loạn lo âu là tình trạng lo sợ quá mức, kéo dài và khó kiểm soát, khác với cảm giác lo lắng thông thường. Một số trường hợp, người bệnh có xu hướng né tránh nơi đông người, hạn chế giao tiếp, thu hẹp các mối quan hệ xã hội và có thể xuất hiện suy nghĩ tiêu cực.
Mới đây, tại Viện Sức khỏe Tâm thần, các bác sĩ vừa tiếp nhận và điều trị cho một bệnh nhân nam 27 tuổi với biểu hiện điển hình của rối loạn lo âu bệnh tật. Theo bác sĩ Phạm Thanh Tùng, người bệnh vốn trầm tính, cầu toàn và hay suy nghĩ. Từ tháng 4/2025, sau khi gặp áp lực công việc, anh bắt đầu xuất hiện cảm giác khó thở khi hít vào, nặng tức ngực.
Trong suốt 5 tháng, người bệnh đi khám tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương, thực hiện hàng loạt xét nghiệm chuyên sâu: Nội soi, đo chức năng hô hấp, chụp CT ngực… Kết quả cho thấy tất cả các chỉ số đều trong giới hạn bình thường. Dù vậy, người bệnh vẫn không tin. Anh cho rằng các triệu chứng là dấu hiệu của một căn bệnh nan y chưa được phát hiện.
Sự lo lắng khiến các cơn khó thở tăng lên, kèm co quắp tay chân, cứng đờ người. Đỉnh điểm, người bệnh trở nên bi quan, xuất hiện suy nghĩ tiêu cực. Chỉ khi được chuyển đến Viện Sức khỏe Tâm thần điều trị nội trú 40 ngày với chẩn đoán rối loạn lo âu hỗn hợp, tình trạng mới dần ổn định.
Bác sĩ Viện Sức khỏe tâm thần thăm khám cho bệnh nhân.
BSCKII. Vũ Thị Lan, Phòng điều trị các rối loạn liên quan stress, Viện Sức khỏe Tâm thần, cho biết, rối loạn lo âu bệnh tật (Illness Anxiety Disorder - IAD) là rối loạn tâm thần đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức về việc mắc hoặc sẽ mắc bệnh lý nghiêm trọng, dù các kết quả khám và xét nghiệm đều bình thường. Bệnh thường khởi phát ở độ tuổi 20 - 30 song có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào.
Bác sĩ Lan cảnh báo các dấu hiệu nhận biết điển hình của chứng rối loạn lo âu bệnh tật gồm: Lo lắng thái quá; kiểm tra cơ thể liên tục (soi gương, đo huyết áp, kiểm tra nhịp tim… nhiều lần mỗi ngày); dành quá nhiều thời gian tra cứu triệu chứng và tự chẩn đoán bệnh nặng… Người bệnh có thể sẽ đi khám liên tục để tìm sự trấn an; cũng có thể né tránh đi khám vì sợ phát hiện bệnh.
Theo bác sĩ, nguyên nhân là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Về sinh học, người bệnh có thể mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh như Serotonin, Norepinephrine. Về tâm lý - xã hội, người cầu toàn, hay lo lắng hoặc từng trải qua sang chấn (như người thân mắc bệnh nặng) có nguy cơ cao hơn. Về tác động truyền thông, có thể người bệnh tiếp xúc quá nhiều thông tin y học thiếu kiểm chứng trên internet.
Dù không có tổn thương thực thể, nỗi đau khổ của người bệnh là hoàn toàn có thật. Lo âu kéo dài kích hoạt hệ thần kinh tự chủ, gây ra các triệu chứng cơ thể như tim đập nhanh, khó thở, đau đầu, đau dạ dày… tạo thành vòng xoắn: lo âu - xuất hiện triệu chứng - càng lo âu hơn...
Rối loạn lo âu bệnh tật là rối loạn tâm thần đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức về việc mắc hoặc sẽ mắc bệnh lý nghiêm trọng.
Tương tự, một nữ nhân viên kế toán 23 tuổi (Hà Nội) đã phải đến bệnh viện khám bệnh thường xuyên do mất ngủ kèm theo nhiều dấu hiệu suy giảm sức khỏe rõ rệt. Theo bác sĩ Nguyễn Viết Chung, Trưởng khoa Tâm thần (Bệnh viện E), bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn lo âu kèm triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật. Phác đồ điều trị gồm trị liệu tâm lý cá nhân và thuốc.
Sau gần 3 tuần dùng thuốc, kết quả kiểm tra cho thấy, người bệnh giảm rõ rệt triệu chứng lo âu. Giấc ngủ được cải thiện, không tỉnh giấc giữa đêm. Những cơn đánh trống ngực, hồi hộp, đau thắt ngực không còn, tuy vẫn còn cảm giác nghe thấy tiếng tim đập khi nằm ngủ - một biểu hiện điển hình của rối loạn thần kinh thực vật. Khả năng tập trung sẽ được cải thiện nếu bệnh nhân tiếp tục duy trì điều trị theo đúng hướng dẫn.
Theo bác sĩ Chung, đây là trường hợp đáp ứng điều trị tốt. Tuy nhiên, nếu không được phát hiện và can thiệp từ sớm, rối loạn lo âu có thể tiến triển âm thầm và chuyển thành mạn tính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2021, khoảng 4% dân số thế giới mắc phải chứng rối loạn lo âu, tương đương với 301 triệu người. Thống kê của Bộ Y tế Việt Nam công bố tháng 8/2023 cũng chỉ ra, mỗi năm gần 15 triệu người Việt Nam mắc các chứng rối loạn tâm thần, đứng đầu là trầm cảm, rối loạn lo âu - chiếm 5,4% dân số.
Rối loạn lo âu có thể tiến triển âm thầm và chuyển thành mạn tính.
Nguyên nhân làm gia tăng rối loạn lo âu ở người trẻ được ghi nhận liên quan đến áp lực thi cử ở học sinh – sinh viên, khối lượng công việc lớn ở người trưởng thành, sang chấn tâm lý, tác động tiêu cực từ mạng xã hội, thay đổi nội tiết, yếu tố di truyền và rối loạn dẫn truyền thần kinh.
Ở góc nhìn khoa học, bác sĩ Lan cho biết: Trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ mười (ICD-10) thì Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm được xếp vào mã bệnh F41.2, thuộc các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể. Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm khá thường gặp trong quần thể dân số chung với tỷ lệ dao động từ 0,8% - 2,5% và từ 5% - 15% người bệnh trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Tại hội thảo khoa học quốc tế "Tiếp cận liên ngành trong chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ và gia đình" mới đây, GS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh ở nhóm phụ nữ, nguy cơ còn cao hơn. Tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình lên tới 24,7%, lo âu sau sinh 16%.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây cho thấy 90% người có vấn đề tâm thần không được tiếp cận dịch vụ điều trị phù hợp. Theo GS.TS Minh, nhiều quốc gia đã đạt tiến bộ khi đưa sức khỏe tâm thần vào sàng lọc ngay ở tuyến cơ sở, giúp phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời. Ví dụ, Thái Lan lồng ghép chăm sóc tâm thần vào dịch vụ thai sản và sức khỏe bà mẹ - trẻ em.
Khoảng 4% dân số thế giới mắc phải chứng rối loạn lo âu.
Với thực trạng tại Việt Nam, GS.TS Minh đề xuất năm trụ cột chiến lược để đối phó với bệnh lý rối loạn lo âu trong cộng đồng: Lồng ghép sàng lọc vào chăm sóc ban đầu; Chuyển giao một số nhiệm vụ hỗ trợ tâm lý cho nhân viên y tế cơ sở; Tăng cường hỗ trợ gia đình và cộng đồng; Phát triển giải pháp số để mở rộng tiếp cận; và Cải cách chính sách - tài chính để bảo đảm dịch vụ bền vững.
Hoài Phương