Tiền thưởng Tết là khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN. Ảnh: Nam Khánh.
Cuối năm, nhiều doanh nghiệp bắt đầu công bố mức thưởng Tết cho người lao động. Hiện nay, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương, tiền công thì tiền thưởng Tết không thuộc các khoản tiền thưởng được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN. Do đó, tiền thưởng Tết được xác định là khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN.
Theo Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân, thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế x Thuế suất
Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc…
Trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú, người nộp thuế còn được trừ vào thu nhập chịu thuế mức giảm trừ gia cảnh. Cụ thể, Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 tăng mức giảm trừ gia cảnh từ năm 2026 quy định mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm) và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - Các khoản đóng bảo hiểm - Giảm trừ gia cảnh
Như vậy, người lao động sẽ phải nộp thuế khi có thu nhập tính thuế lớn hơn 0. Điều này đồng nghĩa tổng thu nhập chịu thuế (gồm tiền lương và tiền thưởng Tết) sau khi trừ đi các khoản đóng bảo hiểm và giảm trừ gia cảnh mà lớn hơn 0 thì người lao động phải nộp thuế.
Nếu phát sinh thu nhập tính thuế, người lao động sẽ tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân:
Minh Khánh