Theo Nghị định, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố là những người thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu, khu dân cư.
Cô đỡ thôn, bản là những người thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại các thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc thuộc các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn, xã vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
NVYT, cô đỡ thôn bản được tăng mức hỗ trợ từ 15/7/2026.
Đáng chú ý, Nghị định quy định trong thời gian công tác, nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản được hưởng chế độ hỗ trợ hằng tháng. Mức hỗ trợ được xác định bằng 0,7 lần hoặc 0,5 lần mức lương cơ sở.
Cụ thể, mức hỗ trợ bằng 0,7 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại các thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên; các thôn, bản thuộc xã vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ; các tổ dân phố, khu phố có từ 500 hộ gia đình trở lên.
Mức hỗ trợ bằng 0,5 lần mức lương cơ sở áp dụng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại các thôn, bản, tổ dân phố còn lại.
Từ 1/7/2026, mức lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, mức hỗ trợ đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản cũng được điều chỉnh tăng tương ứng. Theo đó, nhóm được hưởng mức hỗ trợ bằng 0,7 lần lương cơ sở sẽ nhận khoảng 1,771 triệu đồng/tháng. Nhóm được hưởng mức hỗ trợ bằng 0,5 lần lương cơ sở sẽ nhận khoảng 1,265 triệu đồng/tháng, cao hơn so với mức đang áp dụng trước đây.
Nghị định cũng giao UBND cấp tỉnh căn cứ đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng cân đối ngân sách địa phương để trình HĐND cùng cấp quyết định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản trên địa bàn.
Đồng thời, HĐND cấp tỉnh được quy định mức hỗ trợ hằng tháng cụ thể đối với các đối tượng này nhưng không được thấp hơn mức hỗ trợ tối thiểu do Nghị định quy định.
Lê Bảo