Anh Nguyễn Mạnh Hà làm việc tại công ty Tobishima Seisakusho. Ảnh: Kyodo
Tại hàng chục đô thị, tỷ lệ cư dân nước ngoài đã vượt mốc này, trong khi một ngôi làng cho biết hơn một phần ba dân số là người nước ngoài.
Theo Kyodo News, một viện nghiên cứu quốc gia ước tính người nước ngoài sẽ chiếm 10,8% dân số Nhật Bản vào năm 2070. Tuy nhiên, phân tích dữ liệu từ Sổ đăng ký cư trú cơ bản cho thấy sự thay đổi đã diễn ra mạnh mẽ ở cấp địa phương. Tính đến tháng 1/2026, có 27 đô thị ghi nhận tỷ lệ cư dân nước ngoài trên 10%, trong đó làng Shimukappu thuộc tỉnh Hokkaido dẫn đầu với 36,6%.
Xu hướng này cho thấy sự chuyển dịch về cơ cấu dân số trên toàn quốc có thể diễn ra sớm hơn nhiều so với dự báo, đặt ra câu hỏi về những thay đổi trong đời sống hằng ngày của một quốc gia vốn lâu nay được xem là có cơ cấu dân số tương đối đồng nhất.
Tại thị trấn Tobishima, tỉnh Aichi, miền Trung Nhật Bản, trong tổng số 4.713 cư dân có tới 501 người là người nước ngoài, chiếm 10,6% dân số. Vào các buổi tối trong tuần, nhiều lao động nước ngoài mặc đồng phục đạp xe qua các con đường trong làng. Đến cuối tuần, gần một nửa hành khách trên các tuyến xe buýt địa phương là người nước ngoài.
Người dân địa phương cho biết số lượng cư dân nước ngoài đã tăng nhanh trong vài năm trở lại đây. Nhiều người trong số này làm việc tại các nhà máy theo chương trình thực tập kỹ thuật hoặc chương trình “kỹ năng chuyên biệt” của Nhật Bản, nhằm bù đắp tình trạng thiếu hụt lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một số khác làm việc trong lĩnh vực buôn bán xe ô tô đã qua sử dụng.
Một cư dân địa phương 54 tuổi cho biết người nước ngoài sống tại đây thường vui vẻ giúp đỡ việc làm vườn và làm việc chăm chỉ. Một nông dân 78 tuổi cũng nói rằng ông không nhận thấy vấn đề đáng lo ngại nào dù số lượng người nước ngoài tăng lên nhanh chóng.
Tuy vậy, vẫn có những ý kiến thận trọng. Một phụ nữ 75 tuổi đang kinh doanh cho biết bà trân trọng sự đóng góp của lao động nước ngoài, nhưng lo ngại số người không quen với phong tục Nhật Bản sẽ ngày càng nhiều. Trong khi đó, một cụ bà 83 tuổi nói rằng những thay đổi quá nhanh trong môi trường sống khiến bà cảm thấy bất an.
Gần cảng Nagoya, phía sau các dãy nhà kho và nhà máy, công ty Tobishima Seisakusho vẫn hoạt động giữa những cánh đồng yên tĩnh. Doanh nghiệp này sản xuất linh kiện cho thiết bị làm lạnh và điều hòa không khí. Trong tổng số 21 nhân viên, có bốn người là lao động Việt Nam làm việc theo chương trình thực tập kỹ thuật hoặc thị thực lao động tay nghề cao.
Chủ tịch công ty, ông Hideki Ito, 73 tuổi, cho biết sự hiện diện của họ là không thể thiếu. “Họ là tài sản quý giá của công ty. Nếu họ nghỉ việc, doanh nghiệp sẽ không thể duy trì hoạt động”, ông nói.
Theo ông Ito, nhiều người trẻ Nhật Bản đã rời các địa phương để lên thành phố, khiến các doanh nghiệp tại chỗ gặp khó khăn trong tuyển dụng. Ngay cả khi tuyển được lao động Nhật Bản, một số người cũng bỏ việc chỉ sau chưa đầy một năm.
“Về lâu dài, có lao động trẻ người Nhật vẫn là điều tốt nhất, nhưng thực tế không cho phép. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác”, ông chia sẻ.
Công ty bắt đầu tuyển dụng lao động Việt Nam từ năm 2017 sau khi nhận thấy họ chăm chỉ và có tinh thần làm việc tốt. Theo ông Ito, mức lương và tiền thưởng dành cho lao động Việt Nam gần tương đương với nhân viên người Nhật.
Bốn công nhân Việt Nam hiện sống cùng nhau trong khu nhà của công ty. Anh Nguyễn Mạnh Hà, 28 tuổi, đã làm việc tại đây khoảng sáu năm. Mỗi tháng, anh gửi từ 120.000 đến 150.000 yên về cho gia đình ở Việt Nam và chi tiêu khoảng 20.000-30.000 yên cho bản thân. “Tôi thích công việc này. Nếu có thể, tôi muốn làm việc tại Nhật Bản lâu dài”, anh Hà nói.
Dữ liệu dân số tổng hợp từ Sổ đăng ký cư trú cơ bản của 1.892 đô thị trên cả nước cho thấy cư dân nước ngoài tập trung đông tại các khu công nghiệp, điểm du lịch và những cộng đồng có lịch sử tiếp nhận người nước ngoài từ lâu. Riêng làng Shimukappu, nơi có khu nghỉ dưỡng Tomamu, ghi nhận 582 người nước ngoài trong tổng dân số 1.590 người.
Năm đô thị khác có tỷ lệ cư dân nước ngoài trên 20%, gồm làng Akaigawa và thị trấn Kutchan (Hokkaido), phường Ikuno (Osaka) và thị trấn Oizumi (tỉnh Gunma). Ngược lại, hai ngôi làng, trong đó có Nishimeya thuộc tỉnh Aomori, không ghi nhận cư dân nước ngoài nào.
Theo thống kê, đến cuối năm 2024, số cư dân nước ngoài tại Nhật Bản đạt 3,76 triệu người, tăng 350.000 người so với năm trước, mức tăng cao nhất từ trước đến nay. Trước thập niên 1960, dân số nước ngoài tại Nhật Bản chỉ dao động quanh mức 600.000 người. Con số này bắt đầu tăng rõ rệt sau khi Luật Nhập cư và Tị nạn được sửa đổi năm 1990.
Sau khi sụt giảm trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đại dịch COVID-19, dân số nước ngoài tại Nhật Bản hiện bước vào giai đoạn tăng trưởng thứ ba. Viện Nghiên cứu Dân số và An sinh Xã hội Quốc gia dự báo tổng dân số Nhật Bản sẽ giảm xuống dưới 87 triệu người vào năm 2070. Theo kịch bản này, dân số nước ngoài tăng trung bình 160.000 người mỗi năm đến khoảng năm 2040, đưa tỷ lệ người nước ngoài vượt 10% vào năm 2070.
Tuy nhiên, thực tế đang vượt xa dự báo. Kể từ năm 2022, số cư dân nước ngoài tăng khoảng 300.000 người mỗi năm và đạt 350.000 người vào năm 2024. Tháng 7 vừa qua, Bộ trưởng Tư pháp khi đó là ông Keisuke Suzuki nhận định Nhật Bản nên tính đến khả năng tỷ lệ dân số nước ngoài vượt 10% vào khoảng năm 2040, sớm hơn khoảng 30 năm so với ước tính của viện nghiên cứu.
Trong khi đó, tình trạng thiếu hụt lao động tại Nhật Bản được dự báo sẽ ngày càng nghiêm trọng. Dân số trong độ tuổi lao động từ 15 đến 64 tuổi dự kiến giảm khoảng 15 triệu người trong giai đoạn 2020-2040.
Bảo Hà/Báo Tin tức và Dân tộc