Ảnh tư liệu về thiết bị hạt nhân được tập kết dưới chân núi Nanda Devi, Ấn Độ
Tờ New York Times hồi tháng 12-2025 đã khơi lại ký ức về cuộc leo núi bí mật năm 1965 tại Nanda Devi do CIA và Cục Tình báo Ấn Độ phối hợp thực hiện để theo dõi chương trình tên lửa và vũ khí của Trung Quốc. Bài điều tra của tờ New York Times ngày 13-12-2025 không bổ sung thêm nhiều thông tin so với những gì đã biết, nhưng lại tập hợp được các chi tiết rải rác từ những tài liệu được giải mật, nhiệm vụ bí mật và hồi ức được cho là của một số người tham gia trong chiến dịch được CIA đặt mật danh là HAT (High Altitude Test).
Ý tưởng về điểm giám sát đặc biệt
Năm 1964, Bắc Kinh đã tiến hành vụ thử hạt nhân trong khí quyển đầu tiên tại Lop Nor (phía đông của khu tự trị Duy Ngô Nhĩ - Tân Cương) cùng các cuộc thử tên lửa có khả năng mang vũ khí hạt nhân. Trước đó, vào năm 1962, Ấn Độ thất bại trong cuộc đụng độ biên giới với Trung Quốc. Những điều này đặt ra một mối đe dọa chiến lược mà một Ấn Độ yếu hơn về quân sự không thể quan sát hay đối phó một cách đầy đủ. Trong bối cảnh Ấn Độ công khai ủng hộ chính sách không liên kết, nước này đã âm thầm đồng ý với một kế hoạch của Mỹ nhằm theo dõi hoạt động của Trung Quốc sâu bên trong Tây Tạng.
Kế hoạch HAT bắt nguồn từ một cuộc trò chuyện tình cờ trong bữa tiệc cocktail ở Washington năm 1964 giữa Tướng Không quân Mỹ đã nghỉ hưu Curtis LeMay (một người theo chủ nghĩa diều hâu trong Chiến tranh Lạnh) với Barry Bishop - nhiếp ảnh gia của National Geographic và là một nhà leo núi Everest kỳ cựu. Những lời kể của Bishop về đỉnh Everest mà ông đã chinh phục 1 năm trước đó cùng khung cảnh từ đỉnh núi nhìn xuống Tây Tạng, nơi Trung Quốc mới thử nghiệm vũ khí hạt nhân và tên lửa, đã thu hút ông Lemay. Kế hoạch lập một đài quan sát từ trên cao từ đó nảy sinh.
CIA sau đó lên kế hoạch lắp đặt một máy phát điện SNAP-19C (hệ thống nguồn điện phụ trợ hạt nhân) nặng 56kg chạy bằng plutonium (chủ yếu sử dụng nhiên liệu là Plutonium-238) trên đỉnh Nanda Devi cao 7.816m, là đỉnh núi cao thứ hai ở Ấn Độ. Theo một số nguồn tin, nó có thể chứa một lượng nhỏ Plutonium-239 có khả năng phân hạch. Thiết bị này nhằm mục đích giám sát các vụ thử hạt nhân trong tương lai và chặn dữ liệu đo từ xa của tên lửa Trung Quốc rồi truyền thông tin đến trạm gốc cách đó 40km. CIA nhanh chóng tiếp cận ông Barry Bishop để tổ chức một cuộc thám hiểm bí mật, được ngụy trang dưới vỏ bọc khảo sát khoa học. Đại úy M.S. Kohli (sĩ quan quân đội Ấn Độ) được cử dẫn đầu cuộc thám hiểm gồm 4 nhà leo núi người Ấn Độ được CIA huấn luyện chuyên sâu trên núi McKinley ở Alaska, 7 nhà leo núi người Mỹ - một số người trong số họ trước đây đã chinh phục đỉnh Everest, cùng với khoảng 14 người khuân vác Sherpa.
Chiến dịch giám sát bí mật năm 1965 có sự kết hợp của cơ quan tình báo Mỹ và Ấn Độ
Thảm kịch bất ngờ
Tháng 9-1965, hàng hóa mang theo ngoài ăng-ten và dây cáp còn chiếc máy phát điện hạt nhân SNAP-19C. Bên trong là các viên nang plutonium bằng gần 1/3 lượng vật liệu được sử dụng trong quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki (Nhật Bản). Các nhà leo núi được đưa bằng máy bay lên độ cao cực lớn với thời gian thích nghi tối thiểu khiến nhiều người kiệt sức. Tuy nhiên, máy phát điện phóng xạ lại phát ra nhiệt, tạo hơi ấm trong điều kiện giá lạnh. Những người Sherpa thậm chí còn tranh giành cơ hội mang nó mà không hề hay biết về mối nguy tiềm ẩn. “Lúc đó, chúng tôi không hề biết nó nguy hiểm đến mức nào” - Đại úy Kohli sau này thừa nhận.
Vào giữa tháng 10, thảm họa ập đến. Một trận bão tuyết bất ngờ bao trùm Nanda Devi khiến cả nhóm bị mắc kẹt trên đỉnh núi. Từ trại tiền phương, Đại úy Kohli đã ra lệnh phải rút lui ngay lập tức để bảo toàn mạng sống. Cả nhóm đã giấu thiết bị hạt nhân và ăng-ten trên một gờ băng và chạy xuống dốc. Họ đã để lại một trong những vật thể nguy hiểm nhất từng bị bỏ lại ở dãy Himalaya.
Năm sau, đội tìm kiếm đã quay trở lại Nanda Devi, nhưng trận tuyết lở đã cuốn trôi gờ băng cùng tất cả các thiết bị. Các quan chức CIA hoảng loạn. Máy dò bức xạ và cảm biến hồng ngoại đã được triển khai, nhưng không thu được gì. Người ta suy đoán, sức nóng của máy phát điện hạt nhân có thể khiến băng tan chảy làm nó xuyên qua lớp băng, chìm sâu hơn vào sông băng cung cấp nước cho hệ thống sông Hằng. Đã có 3 nỗ lực tìm kiếm thiết bị này từ năm 1966 đến năm 1968 (lần đầu do Đại úy Kohli dẫn đầu cùng đội CIA và 2 lần sau do các nhà leo núi thuộc Hải quân thực hiện) nhưng đều thất bại. Đại úy Kohli trước khi qua đời năm 2025 đã gọi chiến dịch này là một bi kịch cá nhân. Ông chỉ trích kế hoạch của CIA là liều lĩnh.
Câu chuyện bị giữ kín cho đến năm 1978 cho tới khi nhà báo Howard Kohn vạch trần chiến dịch này trên Tạp chí Outside. Những tiết lộ này đã gây ra sự phẫn nộ ở Ấn Độ, nhiều người biểu tình cảnh báo rằng CIA đã làm ô nhiễm nguồn nước ở dãy Himalaya. Đằng sau hậu trường, New Delhi và Washington đã nhanh chóng hành động để ngăn chặn hậu quả. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter và Thủ tướng Morarji Desai đã trao đổi riêng, gọi sự việc này là một “vấn đề đáng tiếc”. Cả 2 chính phủ đồng thuận giữ im lặng.
SNAP-19C chưa bao giờ được tìm thấy và nó chìm trong những giả định cùng câu hỏi chưa được giải đáp. Người ta vẫn lo ngại thiết bị chạy bằng Plutonium đó có thể làm ô nhiễm các sông băng và sông ngòi ở dãy Himalaya. Những lo ngại này, kết hợp với sự xuống cấp nghiêm trọng do hoạt động leo núi không được kiểm soát, đã dẫn đến việc đóng cửa chính thức khu bảo tồn Nanda Devi đối với người leo núi vào năm 1983. Tuy nhiên, vào tháng 7-2025, các quan chức Uttarakhand và Quỹ leo núi Ấn Độ đã bắt đầu thảo luận về việc mở cửa trở lại có kiểm soát Nanda Devi và các đỉnh núi xung quanh, cân bằng giữa du lịch với bảo tồn di sản.
Những người leo núi Ấn Độ được đào tạo ở Alaska (Mỹ) trước khi tham gia chiến dịch bí mật năm 1965
Bản năng chiến lược đặc trưng của Ấn Độ
Cần nói thêm, chiến dịch HAT nhận được sự hỗ trợ chặt chẽ của Cục Tình báo Ấn Độ, khi đó chịu trách nhiệm về cả tình báo quốc nội và hải ngoại, điều phối hậu cần và an ninh để đảm bảo nhiệm vụ được giữ kín, mang tính dân sự và hoàn toàn có thể “rút lui” nếu trở nên nhạy cảm về chính trị hoặc ngoại giao. Bài phân tích trên trang The Wire cho rằng, thời điểm đó nó đã phản ánh một bản năng chiến lược đặc trưng của Ấn Độ. Đối mặt với một Trung Quốc sở hữu vũ khí hạt nhân và rất dễ bị tổn thương sau thất bại quân sự năm 1962, Ấn Độ đã lặng lẽ gạt bỏ sự khó chịu về mặt ý thức hệ để hợp tác với Mỹ, tìm kiếm những năng lực mà họ còn thiếu trong khi vẫn cẩn thận bảo toàn quyền tự chủ chiến lược; sự cần thiết, chứ không phải ý thức hệ hay sự liên kết, đã thúc đẩy sự hợp tác này đối với Delhi.
Bản năng đó vẫn còn tồn tại hiện nay. Trung Quốc hiện nổi lên như một cường quốc quân sự, hạt nhân, kinh tế và công nghệ vô cùng đáng gờm. Hơn nữa, năng lực quân sự và cơ sở hạ tầng biên giới cùng với các dấu hiệu khác về sức mạnh cứng phản ánh chính những áp lực từng thúc đẩy các sáng kiến kiểu chiến dịch HAT ở Nanda Devi. Chỉ có điều, chiến dịch bí mật trên một đỉnh núi Himalaya hẻo lánh giờ đây đã nhường chỗ cho sự hợp tác công khai với Mỹ và các đối tác phương Tây khác thông qua những thỏa thuận chiến lược và quốc phòng, chia sẻ thông tin tình báo và công nghệ quân sự, các cuộc tập trận chung và các diễn đàn như Tứ giác Hải quân (Naval Quad). Tuy nhiên, logic cơ bản của Delhi vẫn không thay đổi: Tham gia khi cần thiết, nhưng tránh các liên minh ràng buộc và duy trì quyền tự chủ chiến lược.
Yến Chi