Nhịp sống làng nghề nón lá

Nhịp sống làng nghề nón lá
3 giờ trướcBài gốc
Bà Ngô Thị Toan, chủ cơ sở sản xuất nón lá Hùng Toan hoàn thiện thành phẩm.
Những người "truyền lửa"
Từ khoảng năm 1867, nghề làm nón lá Trường Giang đã hình thành và gắn bó bền bỉ với đời sống người dân địa phương. Dù địa danh đổi thay khi Trường Giang sáp nhập cùng các xã lân cận để hình thành xã Trường Văn hôm nay, chiếc nón vẫn còn đó, như một mạch ngầm sinh kế nuôi sống bao phận người.
Theo lời kể của các bậc cao niên ở địa phương, thuở ban đầu, cụ Lê Văn Huầy - người gốc Kỳ Anh (Hà Tĩnh), dòng họ Lê Văn - là người mang nghề làm nón về làng Tuy Hòa (nay tách thành hai thôn Tuy Hòa và Đông Hòa), mở đầu cho sự hình thành của nghề nón Trường Giang. Tuy nhiên, để nghề “bén rễ” và trở thành sinh kế bền bỉ của người dân, vai trò của bà Nguyễn Thị Thuận - con dâu dòng họ Lê Văn, được nhắc đến như một dấu mốc quan trọng. Từ những mũi kim đầu tiên của bà, nghề làm nón được truyền dạy cho con cháu trong dòng họ, rồi lan sang các gia đình khác trong làng, bền bỉ tồn tại trên mảnh đất Trường Giang suốt hơn một thế kỷ. Không có bia đá hay tư liệu thành văn ghi chép đầy đủ, nhưng trong ký ức người Trường Giang, hình ảnh bà Thuận ngồi bên hiên nhà, lặng lẽ khâu nón, vẫn được nhắc đến như biểu tượng của sự khởi nguồn và gìn giữ nghề. Trên nền tảng truyền nghề ấy, nón lá Trường Giang từng bước khẳng định vị thế của một làng nghề truyền thống, được ghi nhận: Năm 2014, được công nhận là làng nghề truyền thống; năm 2015 sản phẩm nón lá Trường Giang lọt top 100 thương hiệu nổi tiếng cả nước; năm 2016 tiếp tục được chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu tập thể.
Từ những câu chuyện lịch sử, anh Lê Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ hành chính công xã Trường Văn, Phó Chủ tịch Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang, đưa chúng tôi trở lại với đời sống hôm nay của làng nón. Điểm dừng chân đầu tiên là ngôi nhà của bà Lê Thị Lý (SN 1958), nằm ngay mặt đường lớn. Cửa sổ mở rộng, đón trọn ánh sáng và gió trời. Bốn, năm người phụ nữ ngồi sát bên nhau, mỗi người một chiếc nón trên tay. Không gian làm nghề yên ả, chỉ còn lại nhịp kim khâu đều đặn. Bà Lý kể, mình học làm nón từ bà ngoại, mẹ và các chị gái trong nhà. Mười tuổi đã biết cầm kim, cầm vành; rồi cứ thế, chiếc nón theo bà suốt đời. “Ngày xưa làm ruộng là chính. Nhưng đến mùa giáp hạt, chính nghề nón nuôi sống cả nhà”, bà nói, tay vẫn đều đặn khâu.
Bà Lê Thị Lý chẻ vành, khâu nón qua từng mũi kim, sợi chỉ.
Ở một góc làng khác, bà Nguyễn Thị Chất (SN 1940) vẫn ngồi bên chiếc nón như đã làm suốt hơn nửa thế kỷ qua. Bà về Trường Giang làm dâu năm 25 tuổi, bắt đầu học nghề từ những người phụ nữ trong gia đình chồng. Sáu mươi năm gắn bó, chiếc nón đã trở thành một phần đời của bà. Lưng đã còng, tay run nhẹ, nhưng từng mũi kim vẫn quen thuộc. “Nghề này không nặng nhọc, nhưng cần kiên trì và khéo tay. Trước đây, mỗi ngày tôi làm được 3 - 5 chiếc, giờ chỉ còn khoảng 2 chiếc. Lấy công làm lãi vài chục nghìn đồng một chiếc thôi, nhưng vui vì mình vẫn còn làm được”, bà Chất nói.
Ngày trẻ, bà làm nông là chính, làm nón lúc nông nhàn. Nay tuổi cao, không còn ra đồng, nghề nón lại trở thành công việc chính của đôi vợ chồng già. Với phụ nữ Trường Giang trước đây và Trường Văn hôm nay, nghề làm nón vừa là nghề phụ, vừa là nghề chính. Trong những nếp nhà mở cửa đón nắng, bằng những mũi kim đều đặn, họ duy trì nghề truyền thống như một phần sinh kế gắn với đời sống nông thôn.
Khi nón làng bước ra thị trường
Rời những nếp nhà bên cửa sổ, chúng tôi đến cơ sở sản xuất nón lá Hùng Toan - một trong những cơ sở có quy mô lớn tại địa phương. Trong khoảng sân rộng có mái che, những chiếc nón trắng được xếp thành từng chồng cao, ngay ngắn xen lẫn là các mẫu nón vẽ tay, thêu hoa văn, nón phục vụ du lịch.
Bà Lê Thị Lý phơi lá nón - công đoạn quen thuộc mở đầu cho hành trình làm nên chiếc nón lá Trường Giang.
Bà Ngô Thị Toan (SN 1974), chủ cơ sở, sinh ra và lớn lên ở làng nón Trường Giang. Mười tuổi, bà đã quen tay với kim chỉ, học nghề từ mẹ, từ bà trong những buổi ngồi bên hiên nhà. Trong không gian quen thuộc ấy, chiếc nón không chỉ được làm ra để bán, mà còn được gìn giữ và truyền lại như một nếp nghề của gia đình. Lớn lên giữa những vành tre, tàu lá và tiếng kim khâu quen thuộc, anh Lê Văn Chung (SN 1999) - con trai bà Toan, tiếp nhận nghề từ mẹ một cách tự nhiên. Từ nền tảng nghề được truyền dạy qua các thế hệ, anh chọn tiếp nối nghề truyền thống của dòng họ, đồng thời tìm cách để chiếc nón quê bước vào đời sống hôm nay bằng những hướng đi mới.
Không chỉ giữ nghề, anh Chung chủ động ứng dụng công nghệ để mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Anh lập trang facebook giới thiệu nón lá Trường Giang, đăng tải hình ảnh, mẫu mã, kết nối với khách hàng ở xa. Anh cũng trực tiếp đi Huế, Nghệ An học hỏi cách làm, cách tạo mẫu, từ đó phát triển thêm các dòng nón phục vụ du lịch, quà lưu niệm. Khi lượng đơn hàng tăng lên, năm 2021, gia đình anh Chung mạnh dạn đầu tư 4 máy may nón nhằm giảm bớt sức lao động thủ công, đồng thời đáp ứng các đơn hàng với số lượng lớn. Từ mô hình sản xuất nhỏ trong gia đình, cơ sở nón lá dần được tổ chức bài bản hơn, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động nữ trên địa bàn xã. Tùy theo tay nghề và sản lượng, thu nhập của người lao động đạt khoảng 200.000 - 500.000 đồng/người/ngày, góp phần giúp nhiều phụ nữ có thêm nguồn thu ổn định ngay tại quê nhà. Với anh Lê Văn Chung, mỗi chiếc nón làm ra không chỉ là sản phẩm hàng hóa, mà còn là cách anh giữ gìn nghề truyền thống của gia đình, của dòng họ, để chiếc nón quê tiếp tục hiện diện trong nhịp sống hôm nay.
Trên địa bàn xã Trường Văn hiện có gần 2.000 hộ tham gia làm nón, với trên 5.000 lao động, chủ yếu là phụ nữ nông thôn. Mỗi năm, làng nghề đưa ra thị trường hàng triệu sản phẩm nón lá, đóng góp nguồn thu đáng kể cho kinh tế địa phương. Tuy vậy, trước xu thế lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa, nghề nón cũng đứng trước không ít thách thức, đặc biệt là bài toán kế cận và nâng cao giá trị sản phẩm. Trước thực tế ấy, chính quyền địa phương cùng Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang đang từng bước triển khai các giải pháp giữ nghề, truyền nghề cho thế hệ trẻ, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhưng trên tất cả, sức sống của nghề vẫn được nuôi dưỡng từ chính những nếp nhà, nơi chiếc nón còn hiện diện trong đời sống thường ngày của người dân.
Ở Trường Văn hôm nay, nghề nón không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là sự tiếp nối giữa các thế hệ, là câu chuyện của một làng quê biết trân trọng quá khứ và tìm đường cho tương lai. Giữa mùa đông nắng ấm, những chiếc nón vẫn trắng đều dưới khung cửa sổ và câu chuyện làng cứ thế được kể chậm rãi, qua từng vòng tre, từng lớp lá, từng mũi kim không vội vàng...
Bài và ảnh: Tăng Thúy
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/nhip-song-lang-nghe-non-la-276585.htm