Xuân này, khi đất nước bước sang năm thứ 51 trong hòa bình, tôi lại nghĩ về cha - một người lính đã gửi tuổi thanh xuân vào chiến trường và gửi cả cuộc đời mình cho Tổ quốc.
Cha tôi rời giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào mùa Xuân Mậu Thân năm 1968. Ngày ấy, những chàng trai xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc như cha tôi nhiều lắm. Có rất nhiều người đã viết huyết thư để được ra trận. Cũng như bao người lính thời ấy, cha tôi đã hòa mình vào đoàn quân điệp trùng ra trận tuyến với tinh thần “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
Những sĩ quan trẻ vẫn hăng hái lên đường ra Nhà giàn DK1. Ảnh: Mai Thắng
Sau những đêm hành quân không ngủ trong rừng sâu và trận chiến đấu đầu tiên mà cha tôi nếm trải, cha viết thư về nhà cho mẹ tôi: “Em ơi, đừng buồn. Anh đi rồi, anh sẽ về với em trong ngày mùa xuân hòa bình, thống nhất. Nếu anh không về thì đất nước ta nhất định sẽ có được hòa bình”. Lá thư ấy, gia đình tôi giữ như một báu vật. Nó không chỉ là kỷ vật của riêng cha mẹ tôi, mà là chứng tích của một thế hệ biết đặt vận mệnh dân tộc cao hơn hạnh phúc của riêng mình. Mẹ tôi bảo “thời chiến trận luôn cần những người xung phong ra trận. Cha con là một trong nhiều thanh niên lúc đó đã viết thư bằng máu để được ra chiến trường. Giữ lá thư này để các con hiểu rằng, thời đại nào, Tổ quốc cũng cần những con người quên mình, biết sống đẹp, sẵn sàng xả thân vì nước”. Mẹ tôi ấp lá thư lên ngực, nước mắt trào ra, ánh mắt nhìn lên di ảnh của cha đặt giữa bàn thờ.
Trước khi tôi vào Quân đội, tôi đã từng hỏi mẹ: “Sao cha lại không đi học mà lại chọn ra chiến trường chiến đấu?”, mẹ tôi đã trả lời giản dị: “Không ai muốn chọn chiến trường con ạ. Nhưng nếu cha con và các chú bộ đội không ra trận tuyến, thì bầu trời trên kia không phải là của con, và cũng chẳng bao giờ có mùa xuân độc lập. Máu xương đổ xuống năm xưa, là hòa bình của ngày hôm nay. Cuộc sống phồn thịnh bây giờ, được đổi bằng sự hy sinh của những người lính Cụ Hồ ngày trước”.
Ngày cha tôi nằm xuống, tôi còn nằm trong bụng mẹ. Mẹ tôi kể lại, ông hy sinh tại Chiến trường Đ. Đó là mùa Xuân năm 1975, khi dân tộc Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Ngày cha tôi đi bộ đội, mẹ tiễn chân nghẹn ngào rơi lệ. Chiến trường khốc liệt, đâu biết rằng, đó là cuộc chia tay mãi mãi.
Sau 7 năm mòn mỏi chờ đợi, mẹ đón cha trở về. Nhưng đó không phải là cuộc đoàn viên trong niềm hân hoan sau hơn hai nghìn ngày cách biệt, mà là cuộc trở về trong lặng câm và đau đớn. Trên tay mẹ không phải là bàn tay người chồng sau chiến thắng, mà là tờ giấy báo tử cùng chiếc khăn rằn cũ kỹ.
Mẹ chạy ra giữa cánh đồng, ôm chặt kỷ vật ấy mà khóc nghẹn. Chiếc khăn rằn mẹ trao cha trước ngày lên đường - lời hẹn ước “hết chiến tranh mình sẽ gặp lại” vẫn còn vương mùi thuốc súng. Có chỗ sẫm màu bởi máu của cha. Mẹ lặng lẽ đưa khăn lên chít trên đầu, như níu giữ chút hơi ấm cuối cùng của người đã khuất, giữa mùa xuân đất nước trọn niềm thống nhất.
Nhiều đồng đội đã đến tiễn cha tôi. Họ trong bộ quân phục bạc màu khói lửa, lặng lẽ đứng quanh linh cữu, mắt đỏ hoe, tay đưa lên chào người đồng đội lần cuối. Trong mùa xuân đất nước trọn niềm vui thống nhất, giọt nước mắt tiễn biệt cha tôi rơi xuống, thấm vào đất mẹ, hòa cùng niềm hân hoan chung của non sông vừa liền một dải.
Mẹ tôi nói: “Máu xương đổ xuống năm xưa là hòa bình của ngày hôm nay”. Câu nói giản dị mà như khắc vào tim tôi suốt những năm tháng trưởng thành. Tôi hiểu rằng độc lập không phải điều tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng tuổi đôi mươi của bao người lính, bằng những cuộc chia tay không hẹn ngày gặp lại, bằng những giấc mơ còn dang dở. Và vì thế, mỗi lần nghe tiếng pháo hoa giao thừa vang lên, tôi lại thấy trong đó có cả nhịp đập của những trái tim đã ngừng đập vì Tổ quốc. Chính từ ký ức ấy, trong tôi lớn dần một lời hứa là phải sống xứng đáng với sự hy sinh của cha và của cả một thế hệ. Bởi giữ gìn mùa xuân hôm nay không chỉ là trách nhiệm của riêng ai, mà là sự tiếp nối thiêng liêng của những người lính qua mọi thời đại.
Lính trẻ Nhà giàn DK1 canh biển trời cho đất nước đón xuân. Ảnh: Mai Thắng
Tiếp nối truyền thống gia đình, tôi vào bộ đội khoác áo lính. Sau những năm tháng học tập, rèn luyện tại Trường Sĩ quan Chính trị-Quân sự, tôi tình nguyện ra Nhà giàn DK1. Hành trang mang theo không chỉ là quân trang, mà còn là ký ức về cha và lời dặn của mẹ: “Thời đại nào, Tổ quốc cũng cần những con người biết sống đẹp, sẵn sàng xả thân vì nước”.
Giữa trùng khơi, tôi mới thấm thía hai chữ “giữ nước” trong thời bình. Không còn tiếng bom rơi, đạn nổ, nhưng biển không bao giờ lặng sóng. Gió mùa đông bắc quất rát mặt, những cơn bão bất ngờ ập đến, sóng dựng cao như bức tường thép. Có những đêm trực canh, chúng tôi căng mắt theo dõi từng tín hiệu lạ trên màn hình radar, hiểu rằng phía sau mình là hàng triệu mái nhà đang sum vầy.
Giữ biển hôm nay không chỉ là giữ từng tọa độ, từng cột mốc chủ quyền, mà còn là giữ môi trường hòa bình để đất nước phát triển. Trong khi những toan tính độc chiếm Biển Đông chưa bao giờ chấm dứt, những người lính Trường Sa, DK1, Cảnh sát biển, Kiểm ngư vẫn ngày đêm bám biển. Mỗi con tàu tuần tra rẽ sóng, mỗi ca trực thâu đêm là một lời khẳng định lặng lẽ, chủ quyền Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Chúng tôi hiểu rằng, phía sau mình là niềm tin của nhân dân. Khi pháo hoa rực sáng trên bầu trời đêm giao thừa, khi tiếng cười trẻ thơ vang lên trong mỗi mái ấm, thì ở nơi đầu sóng, người lính vẫn đứng gác. Đó không chỉ là nhiệm vụ, mà là niềm vinh dự lớn lao.
Chiến sĩ nhà giàn chuẩn bị đón Tết sớm. Ảnh: Mai Thắng
Xuân Bính Ngọ lại về trên mọi miền Tổ quốc. Từ biên cương, hải đảo đến rừng sâu, rẻo cao, đâu đâu cũng rộn ràng sắc xuân. Nhưng giữa trùng khơi thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, những cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn DK1 vẫn lặng lẽ vào ca trực, duy trì sẵn sàng chiến đấu 24/24 giờ, quan sát mục tiêu trên không, trên biển, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời xử lý mọi tình huống. Khi đất liền sum vầy bên mâm cỗ Tết, họ âm thầm canh thức để giữ bình yên từ sớm, từ xa.
Có người mang trong tim ký ức chiến tranh của cha anh. Có người tiếp nối truyền thống gia đình nhiều thế hệ khoác áo lính. Nhưng tất cả đều chung một niềm tự hào được đứng gác giữa mùa xuân, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Mùa xuân giữ nước vì thế không chỉ là ký ức của quá khứ, mà là trách nhiệm của hiện tại và tương lai. Từ những chiến hào năm xưa đến những nhà giàn sừng sững giữa biển khơi hôm nay, tinh thần người lính Việt Nam vẫn vẹn nguyên “vững tay súng, chắc tay lái, sẵn sàng hy sinh để Tổ quốc trường tồn, để mỗi gia đình trên đất liền được đón Xuân Bính Ngọ trong bình yên và trọn vẹn”.