Nguyễn Thái Học là lãnh tụ sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng, người con ưu tú của xã Thổ Tang, một trí thức bất khuất có lòng yêu nước nồng nàn và căm thù sâu sắc quân xâm lược.
Chân dung liệt sĩ Nguyễn Thái Học (1902-1930). Ảnh: Tư liệu.
Sinh năm 1902, ngay từ nhỏ, Nguyễn Thái Học thường được thế hệ cha anh kể cho nghe chuyện về Đội Cấn và một số phong trào chống thực dân Pháp nên đã sớm giác ngộ lòng yêu nước. Ông ngầm nuôi ý chí đánh đổ chế độ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc và trả thù cho các chiến sĩ yêu nước đã bị thực dân Pháp giết hại.
Tương truyền, tư tưởng cách mạng của Nguyễn Thái Học được bắt nguồn từ mẹ của Đội Cấn, người làng bên, nơi Nguyễn Thái Học đi học chữ Nho lúc còn nhỏ tuổi. Đội Cấn đi lính cho Pháp nhưng sớm được giác ngộ tinh thần cách mạng bởi người tù Lương Ngọc Quyến, một thanh niên đầy khí phách anh hùng cách mạng của phong trào Đông Du bị thực dân đày lên Thái Nguyên, nơi Đội Cấn đang đóng quân.
Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến đã tổ chức một cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên. Chiếm giữ tỉnh lỵ được 7 ngày nhưng sau đó bị quân đội Pháp huy động lực lượng đàn áp. Không chống nổi binh lực mạnh mẽ của địch, cả hai đều tự sát để đền nợ nước. Mẹ của Đội Cấn đau đớn đến mức điên dại và mỗi khi gặp cậu bé Nguyễn Thái Học thường ôm choàng lấy và nói “Các cậu, các cậu làm thế nào để trả thù cho con tôi”.
Câu nói thống thiết của bà mẹ cùng gương hy sinh của Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến đã gieo mầm cách mạng vào lòng Nguyễn Thái Học, đồng thời kết hợp với lòng yêu nước nồng nàn có sẵn trong ông để kết trái thành Việt Nam Quốc dân Đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái lịch sử năm 1930.
Khoảng thời gian 1925-1927 diễn ra nhiều chuyển biến quan trọng trong phong trào yêu nước Việt Nam như những bài diễn thuyết sục sôi của Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn; tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái trong cuộc mưu sát hụt toàn quyền Đông Dương Merlin; phong trào đấu tranh đòi Chính quyền thực dân Pháp ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu; phong trào để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh.
Khu mộ chung tưởng niệm những người con đã anh dũng ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc tại Khu Di tích lịch sử Quốc gia mộ Nguyễn Thái Học tại Yên Bái (nay thuộc tỉnh Lào Cai).
Đặc biệt, từ cuối năm 1924, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) liên lạc với nhóm thanh niên Việt Nam yêu nước trong tổ chức Tâm Tâm Xã và lập ra Hội Việt Nam Kách Mệnh Thanh Niên (hay còn gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội - tháng 6 năm 1925), ra tờ báo Thanh Niên kêu gọi thanh niên trí thức yêu nước hăng hái đứng lên lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh đập tan gông xiềng nô lệ thực dân, giải phóng dân tộc.
Nguyễn Thái Học là một trong những người sớm tham gia tích cực và đi đầu trong làn sóng đấu tranh đó. Ngay khi còn đang là sinh viên Đại học Đông Dương, cuối năm 1926, cùng với một số thanh niên trí thức yêu nước, ông đã lập ra Nam Đồng Thư Xã ở Hà Nội với hoạt động chính là biên soạn, dịch thuật, phát hành sách báo phổ biến các tư tưởng cách mạng nhằm cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp. Trên thực tế, Nam Đồng Thư Xã đã trở thành một trong những nơi quy tụ thanh niên, trí thức yêu nước ở Bắc Kỳ.
Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông cho rằng, con đường duy nhất để mở ra cơ hội phát triển cho dân tộc Việt Nam chỉ có thể là dùng vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp, sau đó tự mình tiến hành công cuộc kiến thiết đất nước. Vì vậy, ông và các đồng chí của mình quyết định lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng với nòng cốt là các thành viên Nam Đồng Thư Xã. Nguyễn Thái Học được Hội nghị bầu làm Chủ tịch Đảng.
Sau khi thành lập, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Việt Nam Quốc dân Đảng đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển cơ sở trong các tầng lớp dân chúng, nhất là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đảng đã liên lạc và sáp nhập thêm nhiều tổ chức đảng ở khắp nơi trong cả nước.
Cơ sở tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng phát triển tương đối nhanh trong năm 1928 và đầu năm 1929, thu hút hàng nghìn thanh niên trí thức, công chức và binh lính Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng cử người bắt liên lạc với Hội Việt Nam Kách Mệnh Thanh Niên và Tân Việt Cách mạng Đảng để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức và phối hợp hoạt động vì mục đích giải phóng dân tộc.
Tượng đài Khởi nghĩa Yên Bái tại Khu di tích lịch sử Quốc gia mộ Nguyễn Thái Học và các cộng sự ở Yên Bái (nay thuộc tỉnh Lào Cai).
Trong quá trình hoạt động, nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng đã bị ảnh hưởng của tư tưởng anh hùng cá nhân, phiêu lưu, mạo hiểm. Điển hình như vụ một nhóm đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở Hà Nội tổ chức ám sát trùm mộ phu đồn điền Bazin làm chấn động dư luận Pháp, khiến chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương hoang mang.
Thực dân Pháp đã mở một chiến dịch đàn áp, truy quét gắt gao các chiến sĩ yêu nước và cách mạng. Do cơ cấu tổ chức còn lỏng lẻo, nhiều cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng bị đánh phá nghiêm trọng, hàng trăm đảng viên bị bắt hoặc bị giết. Riêng đối với Nguyễn Thái Học - linh hồn của Việt Nam Quốc dân Đảng, thực dân Pháp treo giải thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương khi đó cho ai bắt hoặc giết được ông.
Trong tình hình khẩn trương như vậy, tại Hội nghị lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng ngày 1/7/1929, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính đã quyết định không thể ngồi chờ thực dân Pháp lùng bắt, giết hại, phá tan đảng, mà phải gấp rút chuẩn bị và tiến hành một cuộc “tổng khởi nghĩa vũ trang”. Mục đích đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước trong dân chúng, củng cố uy tín của đảng và nếu có thất bại thì “không thành công cũng thành nhân”.
Theo kế hoạch, ban đầu cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra trên hai địa bàn chính ở Bắc Kỳ vào đêm 9/2/1930. Nguyễn Thái Học sẽ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở miền xuôi, trong khi Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính được phân công chỉ huy cuộc nổi dậy ở miền núi.
Gần tới ngày nổi dậy, do cơ sở ở miền xuôi tương đối yếu, lại bị đánh phá nặng nề nên không chuẩn bị kịp, Nguyễn Thái Học cử người báo cho Nguyễn Khắc Nhu hoãn cuộc nổi dậy tới ngày 15/2. Tuy nhiên, liên lạc viên lại bị địch bắt giữa đường. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra ở một loạt các địa điểm từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm mùng 9, rạng sáng 10/2/1930. Quyết liệt nhất là cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái. Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp và làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái trong gần hai ngày.
Do không có sự phối hợp với các cuộc nổi dậy ở địa phương khác, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng đã nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt.
Bất chấp cuộc khởi nghĩa ở miền núi đã thất bại, ngày 15/2/1930, Nguyễn Thái Học và cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn quyết định khởi nghĩa ở miền xuôi như kế hoạch cũ.
Thực dân Pháp quyết định dùng vũ lực tối đa để đàn áp cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng và khủng bố tinh thần yêu nước của dân chúng. Chúng tung toàn bộ lực lượng mật thám, quân đội, bảo an ra lùng sục, càn quét, hòng bắt giam và giết hại các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Chúng còn cho 5 chiếc máy bay đến ném bom triệt hạ làng Cổ Am, căn cứ của Việt Nam Quốc dân Đảng trong cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Bảo. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền thực dân của một cường quốc phương Tây phải sử dụng tới máy bay chiến đấu để đàn áp một cuộc nổi dậy của dân chúng bản xứ.
Được sự che chở của quần chúng yêu nước, Nguyễn Thái Học thoát khỏi sự truy lùng ráo riết của thực dân Pháp một cách thần kỳ. Cùng với một số yếu nhân còn lại của Việt Nam Quốc dân Đảng, ông bàn bạc và dự định cải tổ lại đảng và thay đổi phương hướng chiến lược.
Chính vào lúc công việc này mới được khởi động thì ngày 20/2/1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũ). Ông bị Hội đồng Đề hình thực dân kết án tử hình ngày 23/3/1930.
Ngày 17/6/1930, thực dân Pháp đã hành quyết Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ khác của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Yên Bái bằng máy chém. Trước khi hy sinh, Nguyễn Thái Học còn hô to “Việt Nam vạn tuế!”
Với tư cách là người sáng lập và lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng, Nguyễn Thái Học thực sự là một trong những con người tiêu biểu nhất thuộc lớp trí thức Tây học sớm dấn thân, xả thân cứu nước trong nửa đầu thế kỷ XX. Tấm gương hy sinh dũng cảm của ông trở thành một nguồn động viên, cổ vũ mạnh mẽ các thế hệ thanh niên trí thức yêu nước sau này trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt, lâu dài vì độc lập và tự do của Tổ quốc.
Nguyễn Thái Học tuy “không thành công” nhưng đã thực sự “thành nhân”. Ông đã được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam công nhận là liệt sĩ (24/2/1976) và tên của ông được đặt cho nhiều con phố lớn tại Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác trên cả nước.
Quang Nam