- Chưa đến bảy giờ sáng tôi đã đến được cổng Bện viện Bạch Mai, chen qua dòng người tấp tập ở cổng viện tôi tiến thẳng đến Khoa Khám bệnh. Mới có gần bảy giờ sáng thôi mà sao đã đông người quá, tôi cũng đứng vào hàng người để lấy số thứ tự khám mong sao khám xong còn kịp đón xe về đến nhà trước khi trời tối. Cả khoa có sáu bảy cửa xếp hàng lấy thông tin bệnh nhân mà cửa nào cũng thấy đông nghẹt người phải xếp thành hai hàng. Đúng là tuyến trung ương có khác, bệnh nhân ở mọi nơi đổ về đông quá, tôi chợt nghĩ thế này không biết có kịp về trong ngày hay không? Lúc này tôi thấy sốt ruột quá, mỗi hàng nhích lên từng chút một, cả khoa ồn ã náo nhiệt, các nhân viên y tế đều phải dùng loa để hỏi thông tin hoặc hướng dẫn bệnh nhân. Đứng ngay trước tôi là một ông cụ chừng hơn bảy mươi tuổi mặc bộ quần áo quân nhân còn mới vẫn hằn những nếp gấp, ông cụ một tay bám chặt lấy gấu áo người đàn ông phía trước, tôi chợt nghĩ đến những em nhỏ lần đầu theo mẹ đến chợ phiên không dời mẹ nửa bước. Lâu lâu người đàn ông đứng trước quay lại nhìn như thể trông chừng ông cụ rồi lại hướng mắt về phía cửa khai báo thông tin để phân khoa và lấy số.
Tôi xếp hàng chờ lần lượt từng người lấy số, rồi cũng sắp đến tôi, tôi thở phào rồi tập trung cao độ khi mình đã tiến đến gần sát cái ô cửa kính có nhân viên y tế chờ lấy thông tin. Cô y sĩ cầm căn cước trên tay và gọi qua loa khá to:
- Hoàng Văn Hùng!
Thế là cả người đàn ông và ông cụ đứng trước tôi đều thưa:
- Có! Có tôi!
- Anh đọc địa chỉ nào!
Người đàn ông đưa ông cụ đi khám đang định trả lời thì ông cụ đã với lên trả lời to, rõ ràng:
- Tiểu đội 10, tiểu đoàn 8….
Vừa lúc đó người đàn ông đứng trước lại quay ra nói:
- Bố, yên nào!
Rồi anh quay sang cô nhân viên y tế nói:
- Lộc Bình, Lạng Sơn cô ạ!
Tôi giật mình nhận ra họ cùng tỉnh với tôi nhưng hỏi thăm lúc này không tiện. Cô nhân viên y tế mặt ngơ ngác và hơi xẵng giọng:
- Vậy là tôi ghi địa chỉ nào mới đúng đây?
Anh con trai hơi đỏ mặt và giải thích:
- Cô ghi theo tôi đi, bố tôi đọc địa chỉ của ông ngày xưa thôi, ông phục viên lâu rồi.
Cô y sĩ đánh xong địa chỉ vào máy tính lại hỏi:
- Anh đưa ông đi khám gì?
- Khoa thần kinh cô ạ, ông lúc nhớ lúc quên.
Sau khi hoàn tất thủ tục đăng kí, cô nhân viên y tế đưa cho anh con trai phiếu đăng kí khám và nói:
- Anh cầm giấy đăng kí khám, số thứ tự và phòng khám đã có trên tờ phiếu này rồi, vào khám các bác sĩ sẽ chỉ định chiếu chụp và các xét nghiệm sau nhé.
Người đàn ông cầm giấy đăng kí khám rồi dắt tay bố đến gặp cô nhân viên để được hướng dẫn về phòng khám của Khoa Thần kinh. Tôi nhích lên khai báo thông tin và được chỉ dẫn về phòng khám nội.
Sau khi chờ đợi ở khoa nội để được vào khám xong tôi được bác sĩ chẩn đoán là viêm phổi cần phải chụp X quang và siêu âm, sau khi có kết quả quay lại phòng khám để kết luận và có hướng điều trị.
Chờ đợi siêu âm xong tôi đến ngồi chờ tại khu vực chụp X quang, khu này cũng như khu xếp hàng siêu âm đông nghìn nghịt người, bởi các phòng khám có chỉ định cần siêu âm và chụp X quang đều dồn hết về khoa này. Hầu như các hàng ghế chờ đều ngồi kín cả người, người đứng người ngồi và hành lí rải rác khắp hành lang. Nhiều người đau ốm với gương mặt mệt mỏi, những gương mặt căng thẳng của bệnh nhân và người nhà. Một vài bà chắc đi kiểm tra sức khỏe theo đoàn thì bô bô chuyện trò. Mấy người đi từ sớm sau khi lấy máu xét nghiệm xong tranh thủ mang đồ ăn ra lót dạ. người ăn, người uống, người quạt… .
Tôi cũng đang tìm một chỗ ngồi chờ xếp hàng vào cửa phòng chụp X quang số 2 ngay cạnh phòng chụp cộng hưởng từ để chờ đến lượt, hai phòng cạnh nhau nên cứ thấy ghế trống là ngồi. Thấy một người đứng dậy vào phòng chụp tôi vội ngồi vào chỗ ghế trống. Vừa ngồi được một chút tôi chợt thấy hai bố con cụ Hùng khi nãy cũng vào khoa Hình ảnh để chụp cộng hưởng từ. Anh con trai đeo túi đồ trên vai, một tay cầm theo các phiếu khám, các phiếu xét nghiệm và một túi đồ ăn, có lẽ sáng ra đi sớm quá hai bố con chưa kịp ăn sáng hoặc chưa muốn ăn vì còn chờ lấy mẫu xét nghiệm. Một tay anh dắt tay bố lách qua dãy hành lang đông nghẹt người như thể rời tay ra thì lạc mất ông cụ. Rồi hai bố con anh cũng tiến vào phía gần với tôi, anh đưa mắt tìm xem còn cái ghế nào trống hay không để bố con anh ngồi xuống nhưng chẳng còn cái ghế nào trống cả. Hôm nay mới đầu tuần nên bệnh nhân từ các địa phương đổ về đông quá, các y bác sĩ cũng phải thốt lên hôm nay đông bệnh nhân hơn mọi khi, không còn lối đi, chỉ khuyên mọi người đứng gọn vào cho người qua lại và giữ trật tự, giữ gìn tài sản cá nhân. Thấy hai bố con cụ Hùng đang đứng loay hoay giữa đường cô y tá giục:
- Chỗ này đứng gọn vào đi!
Vậy nhưng nhìn quanh đâu cũng người đứng người ngồi, anh con trai đang đưa mắt dáo dác xem chỗ nào thưa người thì ngồi vào. Tôi cũng đưa mắt nhìn xem nhưng thấy không có chỗ trống cho hai người, tôi đành bảo anh con trai cụ Hùng:
- Anh để ông cụ ngồi đây, có ai vào chụp thì có ghế em sẽ ngồi sau một chút cũng được.
Nói rồi tôi cầm các phiếu khám và túi đồ của mình đứng dậy nhường ghế cho ông cụ. Anh con trai cảm động cám ơn tôi:
- Cám ơn cô, làm phiền cô quá!
- Không sao anh ạ!
Anh đỡ bố ngồi xuống, đẩy hành lí xuống gầm ghế và cũng tìm một chỗ ngồi ngay gần đó để quan sát ông cụ. Không lâu sau tôi cũng đã tìm được một chỗ ngồi. Nhìn vào số thứ tự của mình tôi nghĩ không biết một tiếng nữa đã đến lượt hay chưa. Vì thỉnh thoảng tôi lại ho, đã ho là thành cơn quặn cả ngực, với lại cũng để giữ gìn cho những người xung quanh nên dù đã đeo khẩu trang nhưng tôi cũng không chuyện trò nhiều, tôi hỏi thăm họ mấy câu rồi lặng lẽ chờ gọi đến lượt mình.
Người ngồi ngay bên cạnh ông cụ Hùng cũng là một ông cụ nhưng trẻ hơn, trông da dẻ hồng hào và tóc bạc khá nhiều, ông mặc chiếc áo kẻ không còn mới nhưng cũng có những nếp gấp còn hằn trên áo. Ông cụ áo kẻ quay sang ông cụ Hùng hỏi:
- Ông là lính Trường Sơn hay lính Tây Nam?
Ông cụ Hùng hơi bất ngờ nhưng mặt vụt lên rạng rỡ trả lời:
- Tôi lính Trường Sơn, ông cũng lính Trường Sơn hả?
Ông cụ áo kẻ cũng hồ hởi:
- Tôi cũng lính Trường Sơn đây! Ông tiểu đoàn nào?
- Tôi tiểu đoàn 8
- Tôi tiểu đoàn 7, ông có đánh trận A Bia không?
- Trận mà Mỹ gọi là “Đồi thịt băm, năm sáu chín” ở A Lưới ấy hả?
- Đúng rồi!
- Có chứ, ông cũng đánh trận ấy à?
- Rồi, trời ơi! từ ngày ấy đến giờ tôi mới gặp ông là người thứ hai trong trận ấy đấy!
Rồi hai ông cụ ôm lấy nhau như thể là đôi bạn sau một thời gian dài không gặp lại, hai ông cụ vừa mừng mừng tủi tủi vì gặp lại đồng đội. Ông áo kẻ vội buông ra hỏi:
- Tiểu đoàn ông đánh ở mỏm 400 nhỉ?
- Ờ, tiểu đoàn tôi đánh mỏm 400, chúng tôi có nhiệm vụ tiến công một đại đội của Tiểu đoàn Dù của Mỹ trên hai cao điểm ấy. Tiểu đội tôi được lệnh đánh vào “yên ngựa” rồi tỏa ra đánh mỏm 400.
Ông cụ Hùng vừa kể vừa khua tay khua chân, ánh mắt ông rạng rỡ rồi kể chi tiết như người ta đang tường thuật bóng đá, nào là khi bò lên áp sát cao điểm, khi được lệnh thì xông lên bắn trả, rồi ông đọc vanh vách từng loại súng của ta của địch. Ông áo kẻ nói:
- Tiểu đội tôi đánh lên mỏm 500 nhưng trúng hai quả mìn định hướng của bên nó. Tôi bị văng ra, đây cái chân này cụt cũng từ trận ấy đây.
Nói đến đây ông áo kẻ vội kéo ống quần lên, lúc này tôi và mọi người gần đấy cùng nhìn xuống chân ông áo kẻ. Một cẳng chân gỗ hiện ra giữa đoạn giày tất chỉnh tề với cái gấu quần trước đó đã che đi. Thì ra ông ấy là thương binh. Rồi ông áo kẻ ngậm ngùi nói tiếp:
- Lúc tôi tỉnh dậy đã thấy trong bệnh viện dã chiến rồi, gặp được hai thằng nó cũng chỉ biết thông tin chung chung về anh em tiểu đội mình, không biết cụ thể ai còn ai mất. Sau khi bình phục tôi được cho về. Kể từ ấy mỗi một lần được gặp thằng cùng tiểu đội, cũng tình cờ mà gặp, còn lại bặt vô âm tín.
- Trận ấy chúng nó cũng thiệt hại nhiều lắm, có lẽ cũng là nỗi ám ảnh của bọn chúng, chẳng thế mà chúng gọi cao điểm ấy là “Đồi băm thịt”. Sau khi ta phản công, chúng rút lui tôi cùng đồng đội thu dọn chiến trường mà. Thảm khốc quá ông ạ, chúng tôi không bỏ sót ngóc ngách nào cả, người bị thương đưa xuống trước để kịp cứu. Còn ai chết chúng tôi chôn ngay lưng đồi, có người biết tên có người không nhận dạng được, không giấy tờ hoặc không còn nguyên vẹn. Ban đầu chúng tôi chôn đồng đội mình nhưng khi ta phản công bọn nó vội vã rút lui đã lôi hết thằng bị thương, nhiều thằng ngụy chết bị bỏ lại. Khi sống chúng nó là kẻ thù của mình, chính những thằng nằm đấy khi sống chúng nó nổ súng vào đồng bào mình, nó chết thì bị bỏ lại. Lúc ấy chúng tôi cũng căm thù lắm, định bỏ mặc chúng luôn. Vậy nhưng ngẫm lại đều là người Việt mình, nhiều thằng bị ép làm ngụy mà thôi. Mẹ chúng, vợ chúng nhiều người tủi hổ khi người thân làm ngụy, cũng đau đớn khi chúng bỏ xác ở chiến trường. Nỗi đau của hậu phương của hai chiến tuyến đều giống nhau. Vậy nên cuối cùng chúng tôi cũng gom chúng lại và chôn trong một ngôi mộ tập thể ở sau đồi. Mình là lính Cụ Hồ, yêu nước, căm thù giặc nhưng cũng nhân đạo với kẻ bại trận.
Một khoảng lặng yên ở hành lang nơi đông nghẹt người. Hay là do tôi không nghe thấy những tiếng ồn ào náo nhiệt của những người chờ đến lượt chụp X quang? Không biết mọi người có nghĩ như tôi không? giờ đây khi tôi và mọi người đang chờ đợi khám bệnh ở bệnh viện trung ương với những bệnh nặng hoặc khó chữa ở địa phương cũng có thấm vào đâu so với những đau đớn mất mát ấy. Một cơn ho dữ dội lại đến, tôi lại đau quặn ở ngực. Khi cơn ho đã dứt tôi với sang hỏi anh con trai ông cụ Hùng:
- Bố anh từ chiến trường trở về có bị thương ở đâu không?
- Không cô ạ, nhìn bên ngoài bố tôi lành lặn nguyên vẹn nhưng bố tôi không còn bình thường nữa. Sau 1975 ông phục viên nhưng không quên nếp sống trong quân ngũ. Mỗi sáng ông đều dậy từ năm giờ, hô hào vợ con dậy tập thể dục, chạy vòng quanh sân, gọi vợ con đều là “đồng chí” cả.
Nghe anh nói vậy thì không chỉ mình tôi mà mọi người xung quanh đều ồ lên ngạc nhiên, vì từ nãy đến giờ thấy ông Hùng nói vanh vách chẳng có vấn đề gì. Mọi người vui vẻ hỏi thăm anh con trai, anh nói:
- Ngày ấy tôi còn bé, đang tuổi ăn tuổi ngủ, sáng sớm bị gọi dậy khó chịu lắm, trời rét muốn ngủ thêm tí nữa mà dậy không đúng giờ là bị phạt.
- Thế mẹ anh có cằn nhằn gì không?
- Nông thôn vốn dậy sớm, sáng ra nhiều việc, từ cơm nước, lợn gà rồi con cái, vội cuống cuồng còn ra đồng mà ông vẫn bắt tập thể dục, ban đầu mẹ tôi cũng cằn nhằn nhưng nghĩ ông bệnh tật và cũng chẳng gây hại gì nhiều cũng thôi, lâu dần thành thói quen của gia đình tôi.
- Ngoài việc tập thể dục buổi sáng ra thì còn nếp sống nào trong quân ngũ ông còn giữ không anh?
- Có chứ! Sáng ra ông đi kiểm tra chúng tôi gấp chăn màn, phải thật vuông, thật gọn, đồ đạc trong nhà phải ngăn nắp, không gọn gàng là bị phạt ngay.
- Bố anh phạt kiểu gì?
- Hành quân cùng với bố tôi.
- Ông vẫn giữ thói quen hành quân à anh?
- Tối nào cũng hành quân mọi người ạ, mùa hè cũng như mùa đông, chỉ hôm nào mưa to cả nhà cản mới thôi, có lần ông không nghe, gia đình phải nhờ ông Chủ tịch Hội cựu chiến binh gọi điện báo nghỉ bố tôi mới không hành quân.
- Thế giờ vẫn hành quân á?
- Vẫn thế đấy các bác ạ, Dạo nọ bố tôi đi đúng hôm tối trời bị ngã sứt cả đầu gối, mẹ tôi xót, mắng cho một trận không cho đi mà có được đâu. Hôm sau cả nhà đang ăn cơm ông nói: “Các đồng chí ạ! Hôm qua tôi bị ngã do trời tối quá, đề nghị đơn vị tạo điều kiện cấp cho tiểu đội tôi một cái đèn pin cong của Mỹ, hôm trước thu dọn chiến trường lấy được mấy cái của ngụy”. Cả nhà đã nhìn thấy cái đèn pin cong bao giờ đâu, mua cái đèn ở chợ về ông không dùng. Thế là tôi mua cho cái đèn đeo vào đầu màu xanh như màu của lính, đến nhờ ông Chủ tịch Hội cựu chiến binh đóng bộ vào, đem đèn đến nhà trao cho, nói rằng đèn của đặc công, cấp cho lãnh đạo đơn vị, thủ trưởng ưu tiên cho tiểu đội 10 của ông, ông vui vẻ dùng và quý như báu vật, ai đến nhà cũng khoe. Ấy vậy mà cả nhà vẫn không yên tâm, hôm nào rỗi anh em tôi hoặc các cháu lại đi cùng ông, mình cũng thể dục luôn. Dạo này ông lại nặng hơn, đang xem ti vi thấy người ta duyệt binh là ông cũng vùng dậy thực hiện theo, nửa đêm hô “Xung phong” ầm hết cả nhà. Lo nhất là có lúc ông không nhớ tên người nhà nữa, toàn hỏi tên đồng đội nào thì Khoát, nào Cửu… Ngay đêm hôm kia cả nhà đang ngủ ông gào lên: “Khải! Mày mở mắt ra đi! Cái gì?... Mang về cho u mày hả? được rồi, tao sẽ mang về cho u mày! Mày ra đi thanh thản nhé!…”
- Chắc ông cụ mê sảng - một chị ngồi cạnh lên tiếng.
- Cả nhà tôi bật dậy, bật điện sang xem có chuyện gì, thấy ông ngủ mơ khuyên ông đi ngủ, vậy mà ông vẫn khăng khăng: “Chuyện thật chứ mơ cái gì! Khổ thân, thằng Khải còn chưa có người yêu. Tôi hứa với nó rồi, tôi phải mang bức ảnh với lá thư về cho u nó. Mọi người có thấy ba lô của nó không? Đưa đây cho tôi”. Thế rồi ông tìm cái ba lô khắp nhà, ai khuyên cũng không nghe, tìm chán rồi ngồi dựa vào ghế đến sáng miệng vẫn lẩm bẩm: “Ba lô của nó cũng mất nốt thì ăn nói kiểu gì với mẹ nó!”.
Tôi và mọi người ngồi nghe anh con trai kể mà ai cũng thấy tội cho ông Hùng. Nếu vết thương trên da thịt ai cũng thấy và cảm thông, đằng này vết thương trong lòng trở thành nỗi ám ảnh, lâu lâu kí ức lại hiện về cả trong mơ và khi thức. Vết thương ấy nếu không ở gần, không nghe kể thì làm sao mà biết được.
Tôi vẫn theo dõi hai vị cựu chiến binh nói chuyện, họ kể cho nhau nghe về những buổi hành quân, kể về những đêm trong rừng đầy muỗi vắt, rồi rắn và những bữa chỉ có lương khô và uống nước lã. Thế nên bữa nào được ăn cơm chan canh tập tàng đã là niềm vui nho nhỏ, hôm nào vớ được thú rừng trúng đạn thì cả đơn vị được liên hoan. Hai người cứ miên man kể cho nhau nghe như thể mọi chuyện mới diễn ra tuần trước, tháng trước.
Hai người đang nói chuyện thì loa gọi số 62 vào chụp X quang. Người phụ nữ chạc tuổi tôi ngồi cạnh ông áo kẻ từ nãy đến giờ vội gọi:
- Bố ơi đến lượt rồi, vào chụp thôi!
Ông áo kẻ luống cuống đứng dậy và nói:
- Đến lượt tôi rồi, tôi vào đây!
Ông Hùng ngơ ngác hỏi:
- Ông bí số là 62 à? Ơ! Ông là điệp viên hả?
- Không! Tôi không có bí số, tôi không phải điệp viên, tôi tên Kháng!
- Này! Quê đâu đấy! Đồng chí Kháng ơi!
Ông Kháng chưa kịp trả lời thì cô con gái đã đưa vào phòng, kẻo chậm chễ sợ nhân viên y tế trách. Ông Hùng nhìn theo với đầy vẻ tiếc nuối lẩm bẩm:
- Rõ khổ! Chưa kịp hỏi quê! Chân cẳng thế kia không biết có đứa nào lấy không? Cô này còn trẻ chắc em gái! Không biết còn gặp lại không?
Mấy người ngồi quanh bật cười, mỗi người nói một câu với ông cụ:
- Tí nữa chụp xong ông ấy ra còn chờ lấy phim ông ạ!
- Con gái ông ấy đấy không phải em gái đâu!
Có anh đứng tuổi tếu táo trêu ông cụ:
- Đằng ấy có người yêu chưa? Để ý em gái ông Kháng rồi à mà tìm hiểu quê quán kỹ thế?
Mọi người cũng bật cười, cả dãy hành lang rôm rả hẳn, mấy cô nhân viên y tế cũng không nhắc nhở mọi người trật tự như khi nãy. Ông Hùng vẫn ráo hoảnh trả lời:
- Không! Tôi có vợ con ở quê rồi! hỏi để biết thôi, hòa bình còn đến thăm nhau.
Anh con trai đã ngồi vào ghế của ông Kháng khi nãy và nói:
- Bố yên tâm! Con ngồi giữ chỗ cho ông Kháng. Lát nữa bố con ông ấy ra con hỏi địa chỉ, hai ông chữa bệnh khỏe mạnh rồi con đưa bố đến nhà ông ấy chơi!
- Anh nói thật nhé! Đợi đồng chí Kháng xong nhiệm vụ, tôi hỏi thăm quê quán rồi anh và tôi cùng đến thăm nhà đồng chí ấy nhé.
Anh con trai cầm chai nước đã mở nắp đưa cho ông cụ và khẽ gật đầu, còn ông Hùng, ông nhìn vào phòng chụp X quang với vẻ mặt háo hức lạ thường. Đáng lẽ ông Hùng phải ngóng vào phòng chụp cộng hưởng từ chờ đến lượt mới phải, đằng này ông lại ngóng vào phòng chụp thường. Tôi chợt nghĩ, có lẽ phim chụp não cộng hưởng từ của ông cụ sẽ không hiển thị được những kí ức anh hùng và bi tráng đã được lưu giữ trong “bộ nhớ” của ông cụ, vậy nên căn bệnh của ông cụ chắc y học hiện đại sẽ không chữa khỏi được. Những gì người ta bảo phải quên thì ông lại nhớ, những gì thân thuộc là tên người thân, quê quán có lúc ông lại không nhớ mà lại nhớ tên của những người mà vợ con ông thấy xa lạ, vì thế bảo ông cụ đã quên. Nhớ và quên, đâu phải ai cũng có kí ức giống nhau để định lượng nỗi nhớ và sự lãng quên của người khác. Ông cụ đâu có mất trí hay đã quên hết, mà là rất nhớ, nhớ về tuổi thanh xuân đã cháy hết mình, nhớ đồng đội đồng cam cộng khổ. Nỗi nhớ ấy chưa thể nguôi quên đó thôi. Với ông, đồng đội vẫn mãi là tuổi đôi mươi, mày tao chí tớ, nếp sống trong quân ngũ vẫn hiển hiện và tồn tại từng ngày trong từng nếp sinh hoạt, trong từng giấc ngủ.
Lúc này, tôi biết cả cha con ông cụ Hùng đang háo hức chờ đợi bố con ông Kháng bước ra từ phòng chụp X quang. Tôi đang tưởng tượng sẽ lại như có một cuộc hội ngộ của hai người lính già. Và chẳng hiểu sao tôi cũng chờ đợi giây phút ấy.
Phí Thị Giang