Làm sạch rong câu trước khi cung cấp ra thị trường
Theo con nước
Hơn 20 năm qua, bất kể nắng gắt hay mưa dầm, dì Lê Tắc (thôn Kế Sung, xã Phú Vinh) cùng người thân trong gia đình vẫn đều đặn bám nghề hái rong câu, một công việc âm thầm nhưng cũng không ít nhọc nhằn.
Đầm phá buổi sáng sớm nhìn từ xa thật yên bình. Nhưng với những người làm nghề, đó là cả một hành trình mưu sinh đầy vất vả. Để hái được rong câu, dì Tắc phải chèo thuyền ra xa bờ, nơi rong mọc dày dưới làn nước lợ. Không có máy móc hỗ trợ, tất cả đều dựa vào sức người.
Người hái rong phải cúi mình, đưa tay mò xuống nước, hoặc thả cái vợt lưới tự chế xuống, kéo từng mảng rong lên khỏi lớp bùn. Có khi rong bám chặt, phải dùng rất nhiều lực mới nhấc lên được. Ngâm mình trong nước hàng giờ liền khiến da tay nhăn nheo, chân tay tê buốt, nhất là những ngày trời trở lạnh.
“Có bữa nước sâu, lạnh cắt da. Ngâm riết quen nhưng cũng mệt lắm. Không đi thì không có tiền, nên phải ráng thôi”, dì Tắc nói, tay vẫn thoăn thoắt lượm ốc, rác và đóng rong vào bì để cân cho thương lái.
Khi thuyền đầy, dì lại chèo vào bờ, rồi tiếp tục quay ra. Cứ như vậy, công việc lặp đi lặp lại suốt buổi sáng. Mỗi chuyến thuyền là thêm một chút hy vọng về khoản thu nhập đủ trang trải cuộc sống. Công việc không dừng lại ở việc hái rong. Khi đưa được rong lên bờ, người dân phải tiếp tục làm sạch. Rong câu thường lẫn nhiều bùn đất, vỏ ốc, rác nhỏ nên phải rửa kỹ nhiều lần. Sau đó, rong được trải ra cho ráo nước rồi mới cân bán.
“Mỗi ký rong bán tại chỗ được khoảng 10.000 đồng. Ngày nào trúng thì nhóm 4 - 5 người làm được 4 - 5 tạ, nhưng cũng có ngày ít hơn vì nước lớn, khó hái”, dì Tắc chia sẻ. Nếu đi đều, những người làm nghề như dì Tắc, dì Bay cũng kiếm được 10 - 15 triệu đồng/tháng nhưng đó là thành quả của nhiều giờ lao động. “Vất vả lắm, nhưng với những người gắn bó với nghề hàng chục năm như tôi, quen nghề không đi buồn tay buồn chân, với lại từ xưa đến nay nghề này đối với gia đình tôi vẫn là nguồn sống chính”, dì Tắc bộc bạch.
Bám nghề
Cũng gắn bó với nghề hơn chục năm, dì Lê Bay (Thôn Kế Sung xã Phú Vinh) hiểu rõ từng con nước, từng mùa rong. Dì cho biết, nghề này phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và môi trường. Khi nước đầm thay đổi, rong cũng ít đi, việc khai thác khó khăn hơn.
“Làm nghề ni phải có sức khỏe. Suốt ngày lênh đênh, dãi nắng dầm mưa, không phải ai cũng theo được. Nhưng quen rồi, bỏ cũng không biết làm chi khác. Hơn nữa, cực thì cực thật, những mỗi chuyến thuyền về bờ đầy ắp rong câu là lại có thêm một khoản thu nhập kha khá”, dì Bay nói.
Dẫu vất vả là vậy, nhưng những năm gần đây, niềm vui càng được nhân lên với những người dân làm nghề khi rong câu ngày càng được thị trường ưa chuộng. Nhu cầu tăng cao giúp việc tiêu thụ thuận lợi hơn trước.
Từ rong câu, người dân có thể chế biến nên nhiều món ăn dân dã nhưng hấp dẫn như gỏi rong câu, nộm rong câu hay thạch rau câu thanh mát, món giải nhiệt quen thuộc trong những ngày hè oi ả. Vị giòn nhẹ, thanh mát cùng hương vị đặc trưng của vùng nước lợ khiến rong câu ngày càng được nhiều người ưa chuộng, trở thành nguyên liệu quen thuộc trong nhiều quán ăn, nhà hàng.
Khó khăn, vất vả là vậy, nhưng vượt lên tất cả, họ vẫn bám nghề. Bởi đó là kế sinh nhai, là nguồn thu nhập nuôi sống gia đình. Cũng chính từ những nhọc nhằn đó, những người con của dì Tắc, dì Bay... được nuôi lớn, học hành tới nơi tới chốn.
Giữa sóng nước đầm phá rộng lớn, những con người nhỏ bé vẫn ngày ngày cần mẫn lao động. Mỗi chuyến thuyền ra khơi từ tinh mơ, mỗi mớ rong được gom lại là một phần công sức, một phần hy vọng.
Nghề hái rong câu tuy vất vả nhưng đã góp phần tạo sinh kế cho nhiều hộ dân vùng đầm phá. Khi thị trường ngày càng mở rộng, giá trị của rong câu được nâng cao, người dân cũng có thêm động lực để bám nghề.
Bài, ảnh: Thảo Vy