Trong ký ức của những người lính năm xưa, ngọn lửa chiến đấu vẫn rực sáng, soi rọi tinh thần yêu nước bất diệt. Những câu chuyện của họ không chỉ ghi dấu trang sử hào hùng của dân tộc, mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về ý chí kiên cường, sự hy sinh quên mình để giữ gìn từng tấc đất quê hương.
Sáng ngời tinh thần "Vì nước quên thân"
Tối 6-8-2025, tại Đại hội thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” lần thứ IX nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân cho Trung tướng Cao Minh Nhạn (hiện đang sinh sống tại xã Diên Điền). Khoảnh khắc ấy không chỉ là vinh dự cao quý của một người lính, mà còn là lời tri ân sâu sắc dành cho gia đình đã cống hiến 3 thế hệ cho quê hương, đất nước.
Đồng chí Nghiêm Xuân Thành - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa tặng hoa chúc mừng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Cao Minh Nhạn.
Trung tướng Cao Minh Nhạn sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống cách mạng ở xã Diên Điền. Cha ông, cụ Cao Khả là thương binh kháng chiến chống Pháp; mẹ ông, bà Trần Thị Hấn là cơ sở cách mạng kiên trung. Gia đình ông chịu nhiều mất mát: 3 người anh ruột và 3 người cậu hy sinh vì độc lập dân tộc. Bà ngoại, mẹ và mợ ông đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Từ nhỏ, ông đã thấm nhuần tinh thần “vì nước quên thân”, tham gia tiếp tế, dẫn đường, bảo vệ cán bộ trong những năm tháng khói lửa.
Năm 1972, vừa tròn 18 tuổi, ông chính thức gia nhập lực lượng công an, bắt đầu hành trình cống hiến không ngừng nghỉ. Chiến công tiêu biểu là cuộc xâm nhập “mật khu Hòn Rồng” năm 1976. Khi đó, tổ chức phản động “Mặt trận cứu nguy dân tộc” do Tạ Hoàng Nhạn cầm đầu với hơn 250 tên hoạt động vũ trang tại Phú Khánh, gây ám sát, tập kích, gieo rắc hoang mang. Trước thềm bầu cử Quốc hội năm 1976, chúng âm mưu phá hoại lớn. Nhiệm vụ nguy hiểm được giao cho chàng trai 22 tuổi Cao Minh Nhạn - Tổ trưởng trinh sát ngoại tuyến. Ông đóng giả sĩ quan cảnh sát đặc biệt của chế độ cũ, cùng đồng đội thực hiện kế hoạch “điệu hổ ly sơn”. Với sự bình tĩnh và mưu trí, ông đã thuyết phục thủ lĩnh phản động xuống núi, rơi vào bẫy của ban chuyên án. Tạ Hoàng Nhạn bị bắt sống, tổ chức tan rã, góp phần bảo vệ thành công cuộc bầu cử và củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính quyền cách mạng.
Chỉ 1 năm sau, năm 1977, ông tiếp tục lập công với vụ án linh mục Hà Long Ân bị sát hại tại Nha Trang. Đây là vụ án nhạy cảm, bị thế lực thù địch lợi dụng kích động giáo dân, vu khống chính quyền. Với vai trò trinh sát ngoại tuyến, ông kiên trì điều tra, chỉ sau 1 tháng đã bắt giữ được thủ phạm, thu giữ khẩu súng K54 - tang vật gây án.
Trong suốt sự nghiệp, Trung tướng Cao Minh Nhạn đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Trên cương vị Giám đốc Công an tỉnh Khánh Hòa (giai đoạn 1996 - 2008), ông chỉ đạo triệt phá hàng loạt băng nhóm tội phạm, xóa sạch các tụ điểm phức tạp về an ninh trật tự. Năm 2012, khi là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, ông trực tiếp chỉ đạo làm rõ vụ đặt mìn tại nhà Giám đốc Công an tỉnh.
Không chỉ là chiến sĩ mưu trí, dũng cảm, Trung tướng Cao Minh Nhạn còn là nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, góp phần xây dựng lực lượng Công an Khánh Hòa và Tổng cục Cảnh sát ngày càng vững mạnh. Những hy sinh thầm lặng của ông và gia đình là minh chứng sống động cho lời thề: "Vì nước quên thân, vì dân phục vụ".
Máy trưởng kiên cường trên những chuyến tàu không số
Trên bức tường trong căn nhà nhỏ ở phường Nam Nha Trang, bức ảnh con tàu không số được Anh hùng LLVT nhân dân Phan Nhạn (quê tỉnh Gia Lai) treo trang trọng. Tuy đã 93 tuổi, nhưng ký ức về những năm tháng lênh đênh giữa biển khơi trên những chuyến tàu không số vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí ông.
Đồng chí Hồ Xuân Trường - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy thăm hỏi, tặng quà Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Nhạn.
Ông tham gia du kích từ năm 1950, rồi tập kết ra Bắc năm 1954. Đến năm 1962, ông được lựa chọn vào Đoàn tàu không số. Là một máy trưởng giỏi, kiên cường, ông luôn được cấp trên tin tưởng lựa chọn đi những chuyến khó khăn để mở đường vào bến mới. Từ năm 1962 đến cuối năm 1968, ông đã tham gia 15 chuyến trên 7 con tàu không số theo đường Hồ Chí Minh trên biển, đưa vũ khí trang bị từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Mỗi chuyến tàu đều phải vượt qua muôn vàn gian khổ, với những cuộc đấu trí cam go với địch.
Ông nhớ mãi chuyến đi vào tháng 10-1962, với nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trang bị vào mũi Cà Mau. Năm đó, biển động dữ dội, gió mùa đông bắc quất từng đợt sóng cao, tàu mất liên lạc hoàn toàn. “Không còn cách nào khác, chi bộ quyết định cho tàu men theo bờ. Cứ như thế, vừa đi vừa lần mò. Sau hơn 8 ngày, tàu của chúng tôi cũng vào đến nơi. Khi hàng hóa được bàn giao an toàn, cả tàu vỡ òa trong niềm xúc động”, ông kể.
Năm 1966, trong chuyến tàu 41 vào Bến Ngang (tỉnh Quảng Ngãi), khi đang thả được 2/3 số hàng thì tàu địch xuất hiện. Đứng trước tình thế nguy hiểm, thuyền trưởng lệnh cho anh em rút lên bờ, còn lại một người ở lại hủy tàu. Không một chút do dự, ông Nhạn xung phong nhận nhiệm vụ. Giữa đêm tối, ông lặng lẽ tính toán thời điểm kích nổ. Khi đã bảo đảm an toàn cho đồng đội, ông rời tàu trong khoảnh khắc cuối cùng. Tiếng nổ vang lên, con tàu 41 chìm vào biển sâu, đồng thời góp phần gây tổn thất cho tàu địch.
Anh hùng lực Lượng vũ trang nhân dân Phan Nhạn.
Ký ức ám ảnh và khó quên nhất đối với ông là chuyến đi cuối năm 1968. Khi tàu vừa ra khơi, máy bay địch đã phát hiện và bám theo. Nhận lệnh nghi binh, tàu chuyển hướng, tưởng chừng thoát hiểm. Không ngờ, 7 tàu địch tiếp tục áp sát, bắn pháo sáng, nã súng máy uy hiếp, liên tục yêu cầu dừng tàu. Con tàu vẫn lầm lũi tiến lên. Căng thẳng dâng lên tột độ khi thêm 4 tàu chiến khác kẹp chặt 2 bên. Trên tàu, hơn 1 tấn thuốc nổ đã được bố trí sẵn. “Chúng tôi xác định nếu bị áp sát sẽ cho nổ tàu, chấp nhận hy sinh”, ông Nhạn kể. Suốt 7 giờ đồng hồ, cuộc đấu trí diễn ra nghẹt thở. Đến rạng sáng, tàu địch bất ngờ rút lui, con tàu của ông lại tiếp tục hành trình.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 25-4-2015, ông Phan Nhạn vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Anh hùng diệt giặc trên đỉnh Tà Nĩa
Những ngày tháng Tư lịch sử, chúng tôi theo đoàn công tác của tỉnh đến thăm Anh hùng LLVT nhân dân Bo Bo Tới (ở xã Đông Khánh Sơn). Tại đây, chúng tôi được nghe kể về những chiến công lẫy lừng của ông, người con Raglai diệt giặc trên đỉnh Tà Nĩa, đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang của quê hương Sơn Trung (nay là xã Đông Khánh Sơn) anh hùng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bo Bo Tới trò chuyện cùng đồng chí Lê Huyền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
Nghe có khách đến thăm, anh hùng Bo Bo Tới trong bộ quân phục cũ, trên ngực áo là những huân, huy chương cao quý ra đón khách. Tuy sức khỏe giảm sút, nhưng ông vẫn nhớ như in những ký ức trong cuộc đời mình. Sinh ra và lớn lên ở vùng đất nép mình bên đồi Tà Nĩa, ông chứng kiến cảnh quê hương bị quân xâm lược giày xéo. Năm 17 tuổi, ông xin làm liên lạc cho cơ quan huyện ủy. Quen công tác giao liên, thạo đường đi, lại gan dạ hơn người nên chàng trai trẻ Bo Bo Tới đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ giao liên của mình; được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ A trưởng dân quân du kích, rồi Xã đội phó, Xã đội trưởng xã Sơn Trung.
Năm 1971, với mưu đồ mở rộng vành đai an toàn cho căn cứ quân sự Cam Ranh, quân xâm lược Mỹ tập trung đánh phá tại xã Sơn Trung, hòng cắm cứ điểm ở đồi Tà Nĩa, xây dựng sân bay trực thăng dã chiến. Ngày 10-5-1971, ông Bo Bo Tới cùng 5 du kích xã Sơn Trung, chỉ với 1 khẩu trung liên, 2 khẩu AK, 3 khẩu CKC đã tập kích trận địa địch, diệt 1 tiểu đội, làm bị thương 1 số khác, khiến địch hoảng sợ rút quân. 10 ngày sau, 2 đại đội thuộc Sư đoàn Dù 101 của Mỹ đổ bộ lên đồi Tà Nĩa, ông Bo Bo Tới và các du kích của mình tập kích lần thứ 2. Lần này, ông leo lên cây cao, sử dụng trung liên phối hợp với đồng đội đồng loạt nổ súng vào sở chỉ huy địch, diệt 15 tên, khiến địch khiếp vía rút lui. Biết địch chưa từ bỏ ý đồ chiếm đồi Tà Nĩa, quân và dân Sơn Trung đã đào hầm chông trong sân bay, cắm chông xung quanh hàng rào. Trong suy nghĩ phải làm cách nào để tiêu diệt quân địch hiệu quả nhất, ông Bo Bo Tới đã nảy ra sáng kiến gỡ mìn của địch gài lại trong sân bay để bẫy địch ở đồi Tà Nĩa. Khi quân Mỹ đổ bộ xuống đã bị trúng bẫy mìn, 2 máy bay nổ tung, 30 tên địch bị tiêu diệt. Sau chiến thắng giòn giã, ông Bo Bo Tới cùng đồng đội thu chiến lợi phẩm của địch, tiếp tục gài bẫy mìn, bố phòng địch ngay tại sân bay dã chiến chúng lập nên. Chuẩn bị đổ quân xuống đồi Tà Nĩa lần thứ 3, địch cho rà mìn ở sân bay nhưng không phát hiện bẫy mìn của ông Bo Bo Tới nên liền đáp xuống. Không ngờ bẫy mìn phát nổ, phá hủy thêm 3 máy bay và tiêu diệt 30 tên địch. Đòn đau liên tục, địch phải từ bỏ ý đồ cắm cứ điểm trên đồi Tà Nĩa.
Với những chiến công lẫy lừng ấy, ông Bo Bo Tới đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vào năm 1976. Ông chia sẻ: “Bao đời nay, người Raglai luôn yêu chuộng hòa bình, nhưng một khi quân thù tàn phá quê hương, đất nước thì ai cũng đứng lên đánh đuổi. Tôi tự hào khi đã góp một phần công sức của mình vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước, bảo vệ sự bình yên của buôn làng. Tôi rất vui khi khắp các trận địa đánh địch năm xưa và cả những buôn làng người Raglai bây giờ đã khoác lên mình một diện mạo mới, đời sống của đồng bào Raglai ngày càng ấm no, hạnh phúc”.
Người lính đặc công quả cảm
Tuy đã ở tuổi 81 nhưng mỗi khi nhắc về những năm tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, ánh mắt ông Nguyễn Đức Quân (còn gọi là Nguyễn Trung Hiếu, quê tỉnh Đắk Lắk; hiện sinh sống ở phường Nam Nha Trang) vẫn sáng rực, giọng nói trở nên hào sảng. Ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên trong tâm trí người lính đặc công năm nào.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đức Quân kể cho thế hệ trẻ nghe ký ức thời hoa lửa.
Ông Quân tham gia du kích từ năm 14 tuổi, từng bảo vệ cảng Vũng Rô, sau đó vào Đại đội đặc công thuộc Trung đoàn Ngô Quyền, chinh chiến từ Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ. Ông không nhớ chính xác đã tham gia đánh bao nhiêu trận, bị thương bao nhiêu lần, chỉ biết trên tấm áo quân phục lấp lánh hơn 30 tấm huân chương, trong đó có 2 huân chương được trao ngay tại chiến trường. Ông Quân nói: “Hồi chiến tranh, hễ có giặc ở đâu thì tôi đi làm nhiệm vụ ở đó. Đặc công mà, trên người luôn có thuốc nổ, tổ chức giao nhiệm vụ “mở đường máu” thì mình làm thôi, không nề hà gì”.
Chỉ tay lên đầu - nơi một mảnh sọ bị mất trong trận chiến ở gò Thì Thùng (tỉnh Đắk Lắk), ông kể, năm 1966, khi Lữ đoàn Dù 173 của địch dùng trực thăng đổ quân, quân ta từ địa đạo Thì Thùng chui lên, đánh giáp lá cà bất ngờ. Quanh ông, đồng đội hy sinh, bị thương. Ông cũng bị pháo văng bị thương ở đầu. Không để địch chiếm lợi thế, ông xé áo buộc lại vết thương rồi gác trung liên ở giữa, các súng khác gác xung quanh, nã đạn từ khẩu này sang khẩu khác, trụ từ sáng đến chiều. Cũng từng có lần bị thương ở phổi, ông xé áo nhét tạm để chiến đấu tiếp. Lúc sau thấy lạnh ở hông, phát hiện còn 1 lỗ thủng khác, ông lại xé áo nhét vào, cột chặt. Xong trận thì ông cũng bất tỉnh.
Năm 1969, chiến đấu gần Long Khánh (tỉnh Đồng Nai), đối đầu với hơn 1.000 địch, ông Quân bị gãy xương sườn, đứt 3 khúc ruột, bị thương 1 mắt, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Trận đó, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất ngay tại chiến trường. Ông cười hào sảng: “Tôi đánh trận mà không giết được giặc là không muốn ăn cơm. Khi cấp trên cho ra Bắc chữa trị, tôi nghĩ, đi bộ đội để chiến đấu, nên năn nỉ xin ở lại, đánh thêm trận nữa, thế là lại thêm 1 vết thương trên đầu”. Với những chiến công đặc biệt, năm 1971, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Nữ chiến sĩ kiên trung
Bà Lê Thị Minh Hãnh (quê tỉnh Đắk Lắk, hiện ở phường Nha Trang) là một tấm gương tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Năm 13 tuổi, bà theo cha tham gia cách mạng. Năm 16 tuổi, bà làm Tiểu đội trưởng du kích xã Hòa Quang (cũ). Với tinh thần xông xáo, bám sát địa bàn, bà nhanh chóng xây dựng lực lượng du kích vững mạnh, phát triển cơ sở cách mạng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Minh Hãnh.
Chỉ trong chưa đầy 3 năm (từ tháng 3-1965 đến tháng 1-1968), bà chỉ huy và trực tiếp tham gia hơn 50 trận đánh, phối hợp với bộ đội diệt 254 tên địch, làm bị thương 135 tên. Tháng 3-1965, khi địch huy động tiểu đoàn bảo an càn quét thôn Ngọc Sơn, tổ du kích do bà chỉ huy đã mưu trí dụ địch vào trận địa phục kích, diệt 23 tên, làm bị thương 6 tên. Dù bị vây khốn, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy rút lui an toàn, sau đó vận động Nhân dân đấu tranh chính trị và binh vận, khiến 11 lính ngụy giải ngũ, nộp súng cho cách mạng, riêng bà đã trực tiếp tiêu diệt 13 tên địch.
Tháng 3-1967, tổ du kích của bà phục kích một đại đội biệt kích Mỹ tại Đồng Hòa - Đồng Mỹ - Ngọc Lãnh, diệt 18 tên, làm bị thương 12 tên. Dù bị thương ở đầu, bà vẫn kiên cường bám trận địa, tiêu diệt thêm 5 lính Mỹ và được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Đầu năm 1968, bà chuyển sang Ban An ninh tỉnh Phú Yên (cũ), đảm nhận chức Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đội biệt động. Ở cương vị mới, bà chỉ huy đội biệt động “xuất quỷ nhập thần”, tổ chức hàng chục trận đánh ngay giữa hang ổ địch. Hàng trăm tên ác ôn, gián điệp, cảnh sát, tề ngụy bị tiêu diệt. Tiêu biểu là việc loại trừ tình báo viên CIA mang mật danh “Thiên Nga” (tên Hạnh) vào tháng 3-1969. Tháng 10-1969, bà cùng 2 đồng chí đột nhập trụ sở mật báo viên CIA ở Tuy Hòa, diệt 2 tên. Những đòn đánh chính xác đã làm tê liệt bộ máy tình báo địch. Tháng 8-1970, trên đường công tác, tổ của bà bị lính Nam Triều Tiên phục kích. Hai đồng chí hy sinh, bà bị thương nặng. Trong đau đớn tột cùng, bà vẫn chiến đấu quyết liệt, tiêu diệt 8 lính Nam Triều Tiên, tạo điều kiện cho đồng đội rút lui an toàn.
Với những chiến công đặc biệt xuất sắc, bà Lê Thị Minh Hãnh được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương. Trải qua nhiều vị trí công tác tại Công an tỉnh Phú Yên, Công an tỉnh Phú Khánh và Công an tỉnh Khánh Hòa, bà luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 2004, bà nghỉ hưu theo chế độ với quân hàm Thượng tá. Ngày 6-10-2009, bà vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
T.LONG - V.GIANG - H.LĂNG - P.VINH - L.G