Tên lửa Patriot do Tập đoàn quốc phòng và hàng không vũ trụ đa quốc gia Raytheon của Mỹ sản xuất. Ảnh: AP/TTXVN
Theo Max Boot, chuyên gia tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) và nghiên cứu viên cao cấp Jeane J. Kirkpatrick về Nghiên cứu An ninh Quốc gia của CFR mới đây, cuộc chiến với Iran đã bộc lộ cả điểm mạnh lẫn điểm yếu của hệ thống quốc phòng Mỹ, đồng thời chỉ ra những yêu cầu cấp thiết trong việc tái cấu trúc lực lượng vũ trang của nước này để chuẩn bị cho các cuộc xung đột trong tương lai - đặc biệt với những đối thủ mạnh hơn cả Iran.
Các chuyên gia trên lưu ý, điểm mạnh rõ ràng nhất của quân đội Mỹ là khả năng sử dụng vũ khí chính xác với rủi ro rất thấp đối với binh sĩ - điều mà Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth mô tả là "sự hủy diệt từ trên không". Mỹ đã phóng hơn 850 tên lửa hành trình Tomahawk cùng với các loại vũ khí thế hệ mới như PrSM - tên lửa tấn công chính xác có tầm bắn 300 km, thay thế cho hệ thống ATACMS. Trong tháng đầu tiên, lực lượng Mỹ và Israel đã tấn công 13.000 mục tiêu bên trong Iran. Nhiều lãnh đạo cấp cao Iran, như Lãnh tụ tối cao Ayatollah Ali Khamenei, đã thiệt mạng nhờ thông tin tình báo chính xác.
Tuy nhiên, điểm mạnh này kèm theo một giới hạn nghiêm trọng: Mỹ sản xuất tương đối ít tên lửa hiện đại, và sau vài tuần giao tranh, sẽ mất nhiều năm để bổ sung kho dự trữ. Toàn bộ kho tên lửa PrSM của quân đội Mỹ đã được sử dụng hết trong cuộc chiến này.
Bẫy chiến thuật và khoảng trống chiến lược
Vấn đề lớn hơn là khoảng cách giữa thành công chiến thuật và kết quả chiến lược - điều Mỹ đã nhiều lần vấp phải ở Afghanistan và Iraq. Chiến dịch quân sự đã làm suy yếu quân đội Iran nhưng không thay đổi được chế độ, vẫn bế tắc về kho uranium làm giàu của Tehran, và còn dẫn đến việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz, gây ra khủng hoảng năng lượng toàn cầu.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nhận xét thẳng thắn: "Việc nhắm mục tiêu chính xác không bao giờ bù đắp được sự thiếu chiến lược".
Nếu các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan phơi bày điểm yếu của Mỹ trước bom tự chế giá rẻ, thì cuộc chiến Iran cho thấy điểm yếu trước thiết bị bay không người lái (UAV). Iran đã phóng hàng nghìn UAV Shahed nhằm vào lực lượng Mỹ và đồng minh ở vùng Vịnh. Biến thể UAV phổ biến nhất có tầm bay lên đến 2000 km và giá chỉ khoảng 35.000 USD.
Hệ quả là Mỹ và đồng minh đã phóng hơn 1.700 tên lửa Patriot chỉ trong 16 ngày đầu để phòng thủ, tức là dùng tên lửa Patriot trị giá 3,4 triệu USD hoặc THAAD trị giá 12,7 triệu USD để đánh chặn UAV có giá 35.000 USD. Đây là bài toán chi phí hoàn toàn bất hợp lý. Nghiêm trọng hơn, các cuộc tấn công của Iran đã làm hư hại hoặc phá hủy máy bay Mỹ cùng một số hệ thống radar phòng không. Trước khi chiến tranh nổ ra, Mỹ không triển khai các hệ thống phòng thủ UAV giá rẻ - một thiếu sót rõ ràng mà đến khi giao tranh mới được nhận ra.
Khoảng cách sản xuất
Cuộc chiến cũng bộc lộ rõ nhu cầu cấp thiết về hai mảng: bổ sung đạn dược và xây dựng hệ thống phòng thủ UAV giá rẻ. Dù Lầu Năm Góc đã lên kế hoạch tăng sản xuất tên lửa chủ chốt từ trước chiến tranh, quá trình này sẽ mất nhiều năm. Trong thời gian đó, kho vũ khí suy giảm của Mỹ có thể tạo ra lỗ hổng nghiêm trọng nếu xảy ra xung đột với các đối thủ xứng tầm hơn.
Về UAV, khoảng cách còn đáng lo ngại hơn. Năm 2026, toàn bộ quân đội Mỹ chỉ có 16.000 UAV được đưa vào sử dụng. Bộ trưởng Hegseth công bố sáng kiến mở rộng lên 300.000 UAV vào năm 2027, nhưng ngay con số đó cũng có thể chưa đủ. Để so sánh, Ukraine - quốc gia nhỏ hơn và nghèo hơn nhiều - dự định chế tạo 7 triệu UAV trong năm 2026.
Theo các chuyên gia của CRF, Mỹ cần đầu tư nhiều hơn vào UAV và ít hơn vào các hệ thống có người lái tốn kém như máy bay chiến đấu F-35, xe tăng M1 Abrams và tàu chiến mặt nước. Đồng thời, Mỹ nên đầu tư vào ngành công nghiệp UAV của Ukraine và hợp tác với các công ty nước này để sản xuất cả UAV tấn công lẫn phòng thủ với chi phí thấp hơn nhiều so với các nhà thầu quốc phòng Mỹ hiện tại.
Công Thuận/Báo Tin tức và Dân tộc